Dùng huyết tương người mắc COVID-19 đã khỏi để điều trị COVID-19 như thế nào?

| Y tế

GiadinhNet – Dùng huyết tương người khỏi bệnh điều trị cho bệnh nhân COVID-19 được kỳ vọng là phương pháp hiệu quả. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiến và nhận được.

Dùng huyết tương người mắc COVID-19 đã khỏi để điều trị COVID-19 như thế nào? - Ảnh 1.

Dịch COVID-19 đến nay vẫn diễn biến phức tạp. Công tác điều trị cho người bệnh COVID-19 trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn khó khăn khi chưa có thuốc đặc hiệu, vaccine phòng ngừa. 

Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Hội đồng chuyên môn Bộ Y tế luôn cập nhật và tham khảo, cũng như nghiên cứu, thử nghiệm các phương pháp điều trị của các nước trên thế giới đang thử nghiệm, trong đó, có sử dụng huyết tương trong điều trị COVID-19

Việc sử dụng huyết tương người khỏi bệnh để điều trị được xem xét, đánh giá như một liệu pháp mới có tiềm năng nhằm tăng thêm công cụ cho thầy thuốc điều trị người bệnh, nhất là người tiến triển nặng, bệnh nặng. Việc lấy huyết tương làm trước mắt chỉ giao thực hiện ở các trung tâm lớn có các chuyên gia hàng đầu, đủ điều kiện .

Dùng huyết tương người mắc COVID-19 đã khỏi để điều trị COVID-19 như thế nào? - Ảnh 3.

Sử dụng huyết tương trong điều trị COVID-19 đang được nhiều nước thực hiện. Ảnh AFP

Bộ Y tế mới đây đã phê duyệt nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng phương pháp "Đánh giá tính an toàn và hiệu quả bước đầu điều trị bệnh nhân COVID-19 thể trung bình, nặng và nghiêm trọng bằng huyết tương của người bệnh đã phục hồi" với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, bác sĩ của nhiều bệnh viện tuyến Trung ương như bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương…

Được biết, tại Trung Quốc cũng như một số nước Châu Âu đang thực hiện việc lấy huyết tương người khỏi để điều trị COVID-19. Ở nước ta, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương là đầu mối chính tiếp nhận và sàng lọc người đến hiến huyết tương. Hiện bệnh viện đã tiếp nhận được 5 người hiến huyết tương phục vụ công tác nghiên cứu, điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Trong 5 người tình nguyện có một bác sĩ từng mắc COVID-19.

Chia sẻ về liệu pháp dùng huyết tương người khỏi bệnh để điều trị cho bệnh nhân COVID- 19, là người điều phối chính của nghiên cứu trên, TS.BS Văn Đình Tráng - phụ trách Khoa Vi sinh - Sinh học phân tử (Bệnh viện Nhiệt đới TƯ) cho biết, phương pháp dùng huyết tương của người hồi phục để chữa bệnh đã có từ rất lâu. Liệu pháp này cũng đã từng dùng để ngăn chặn bùng phát của các bệnh gây ra bởi virus như: SARS, sởi, quai bị, cúm…

Theo đó, với việc dùng để điều trị cho bệnh nhân COVID- 19, nguyên lý là lấy huyết tương của người nhiễm COVID-19 đã hồi phục để truyền cho bệnh nhân bị COVID-19 ở thể trung bình, nặng và nghiêm trọng. Người bệnh sẽ được cung cấp kháng thể để tiêu diệt virus SARS-COV-2 khi tiếp nhận kháng thể thụ động từ huyết tương của người hồi phục.

Dùng huyết tương người mắc COVID-19 đã khỏi để điều trị COVID-19 như thế nào? - Ảnh 4.

BS Văn Đình Tráng - Khoa Vi sinh - Sinh học phân tử (Bệnh viện Nhiệt đới TƯ). Ảnh: TG

Về điều kiện cho huyết tương cũng như nhận huyết tương ra sao vẫn còn là câu hỏi của nhiều người. Bác sĩ cho biết, không phải trường hợp nào cũng có thể hiến huyết tương. 

Những người đủ điều kiện hiến huyết tương phải từng mắc COVID-19 nhưng đã khỏi bệnh, sau xuất viện 14 ngày. Độ tuổi từ 18-65 và cân nặng với nam là trên 50kg, nữ trên 45kg.

Những người hiến huyết tương cũng được xét nghiệm miễn phí các bệnh lây truyền như giang mai, HIV, viêm gan B... để đảm bảo nguồn huyết tương sạch khi truyền để điều trị cho bệnh nhân. Đối với những người nhận huyết tương là bệnh nhân COVID-19 thể trung bình, nặng và nghiêm trọng, được xác định nhiễm nCoV bằng xét nghiệm RT-PCR, tuổi từ 18-75.

BS Tráng cho biết thêm, để thực hiện phương pháp này, người hiến tặng huyết tương sẽ được bác sĩ lấy khoảng 600ml. Số huyết tương này sẽ được phục vụ cho nghiên cứu và điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19. Để đảm bảo sức khỏe của người hiến tặng, số huyết tương lấy ra sẽ được bù lại bằng dung dịch huyết thanh sinh lý.

P.Thuận – L.Nguyễn

Phương Thuận
Ý kiến của bạn
Tags:
Suýt thủng dạ dày vì nuốt hạt táo đỏ: Thói quen nhiều người vẫn chủ quan khi ăn

Suýt thủng dạ dày vì nuốt hạt táo đỏ: Thói quen nhiều người vẫn chủ quan khi ăn

Y tế -

GĐXH - Nhiều người nghĩ hạt trái cây nhỏ có thể tự theo đường tiêu hóa ra ngoài nên thường chủ quan khi lỡ nuốt phải. Tuy nhiên, chỉ một hạt táo đỏ có hai đầu sắc nhọn cũng đủ cắm sâu vào thành dạ dày, đe dọa gây thủng đường tiêu hóa và nhiễm trùng nếu không được xử trí kịp thời. Trường hợp của người phụ nữ 25 tuổi tại Hà Nội là lời cảnh báo về một tai nạn ăn uống tưởng nhỏ nhưng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm.

Mang thai nhờ IVF, sản phụ chỉ có một quả thận 'vượt cạn' an toàn tại Ninh Bình

Mang thai nhờ IVF, sản phụ chỉ có một quả thận 'vượt cạn' an toàn tại Ninh Bình

Y tế -

GĐXH - Các bác sĩ Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình vừa phẫu thuật lấy thai thành công cho sản phụ 36 tuổi mang nhiều dị tật bẩm sinh hiếm gặp, chỉ có một quả thận và mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Thai kỳ được xếp vào nhóm nguy cơ rất cao do có nhiều yếu tố bất lợi nhưng cả mẹ và bé đều an toàn.

Đại học Y dược ĐHQGHN, Học viện Phòng cháy chữa cháy cùng chuyên gia Nhật Bản đào tạo giảng viên nguồn cấp cứu ngoại viện

Đại học Y dược ĐHQGHN, Học viện Phòng cháy chữa cháy cùng chuyên gia Nhật Bản đào tạo giảng viên nguồn cấp cứu ngoại viện

Y tế -

GĐXH - Trong hai ngày 28-29/7, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Học viện Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ cùng các đối tác Nhật Bản tổ chức chương trình "Tập huấn giảng viên nguồn cấp cứu ngoại viện" đợt 6. Chương trình hướng tới xây dựng đội ngũ giảng viên nòng cốt, chuẩn hóa đào tạo cấp cứu ngoại viện theo tiêu chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao năng lực ứng cứu trong những tình huống khẩn cấp.

Lác mắt ở trẻ không chỉ ảnh hưởng thị lực: Điều nhiều cha mẹ bỏ qua có thể theo con suốt đời

Lác mắt ở trẻ không chỉ ảnh hưởng thị lực: Điều nhiều cha mẹ bỏ qua có thể theo con suốt đời

Y tế -

GĐXH - Nhiều phụ huynh nghĩ trẻ bị lác chỉ ảnh hưởng đến ngoại hình hoặc thị lực nên thường chờ con lớn mới đưa đi khám. Tuy nhiên, các bác sĩ cảnh báo tình trạng này có thể làm tăng nguy cơ nhược thị, ảnh hưởng khả năng phối hợp hai mắt và để lại những tổn thương tâm lý kéo dài khi trẻ bước vào môi trường học đường.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.