Hà Nội
23°C / 22-25°C

Giảm tỷ lệ nạo hút thai - Những khó khăn và thách thức

Thứ năm, 14:26 17/11/2011 | Dân số và phát triển

Bài này dựa trên kết quả điều tra về nạo hút thai năm 2000, do Ủy ban quốc gia DS-KHHGĐ tiến hành ở hai tỉnh của vùng núi phía Bắc và vùng Đồng bằng sông Hồng. Đây là hai vùng có tỉ lệ nạo hút thai cao ở Việt Nam.

1. Cơ sở nghiên cứu

Để cung cấp những thông tin cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản và giảm tỉ lệ nạo hút thai, Uỷ ban quốc gia Dân số và KHHGĐ (nay là Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) đã phối hợp với Vụ Bảo vệ Bà mẹ trẻ em (Bộ Y tế) tiến hành một nghiên cứu về nạo hút thai, với mục đích tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới quyết định nạo hút thai từ phía khách hàng, các quan điểm từ phía người cung cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ ở hai vùng có tỉ lệ nạo hút thai cao nhất ở Việt Nam, và cung cấp thông tin cho các hoạt động can thiệp về vấn đề giảm tỉ lệ nạo hút thai.

2. Phương pháp nghiên cứu   

Điều tra “Nghiên cứu hồi cứu về các yếu tố quyết định về nạo hút thai ở phụ nữ Việt Nam”, do Uỷ ban quốc gia Dân số và KHHGĐ tiến hành năm 2000. Cuộc điều tra đã phỏng vấn 600 phụ nữ đã từng nạo hút thai tính từ thời điểm 1995 cho tới năm 2000, phỏng vấn sâu 19  người quản lý và người cung cấp dịch vụ, và quan sát tại cơ sở dịch vụ  nạo hút thai.  Điều tra đã tiến hành ở hai tỉnh Ninh Bình và Cao Bằng, thuộc vùng núi phía Bắc và vùng Đồng  bằng sông Hồng, nơi có tỉ lệ nạo hút thai cao của Việt Nam.

3. Kết quả điều tra

Số nạo hút thai ở hệ thống ghi chép của dịch vụ y tế công cộng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh viện nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc nạo hút thai (NHT). Y tế tư nhân tuy chiếm số nhỏ nhưng số lượng khách hàng sử dụng tăng lên hàng năm.  Đáng chú ý qua báo cáo từ các trung tâm y tế huyện, tỉnh cho thấy trong những năm gần đây số lượng khách hàng NHT có giảm nhiều. Nhưng trong phỏng vấn sâu, điều tra viên đã phát hiện vai trò của nhà nước và tư nhân không rõ ràng. Nhiều phụ nữ nói rằng họ đến bệnh viện để NHT, nhưng với tư cách gặp “người quen” với số viện phí thấp hơn bình thường và không ghi vào sổ sách của cơ sở dịch vụ. Do đó số trường hợp NHT qua các báo cáo từ hệ thống y tế nhà nước dường như giảm đi, nhưng thực tế có những trường hợp NHT đã không được ghi lại. 

Nhận biết về mang thai

Kết quả nghiên cứu cho thấy 74 % số đối tượng nhận biết mình có thai dựa theo kinh nghiệm của bản thân, 17,8% do cán bộ y tế khám xác định, nhưng không qua thử nghiệm cận lâm sàng. Chỉ có 5,8% được thử xét nghiệm thai tại cơ sở y tế và 2,3% tự mua que thử thai nhanh để xác định có thai. (Bảng 1). Con số này cho thấy nhiều phụ nữ đã chấp nhận NHT nhưng không qua xét nghiệm lâm sàng để xác định có thai. Do phần lớn chị em này đã từng sinh đẻ, nên họ cho rằng họ biết rõ mình đã mang thai hay chưa. Thậm chí có người còn nói “Tôi biết chắc đi khám thai các chị cán bộ y tế cũng xác nhận như vậy nên không cần xét nghiệm để làm gì, khi nào đội lưu động đến chỉ cần ra trạm xá yêu cầu hút là được hút ngay”. Chỉ có 2,3 % số phụ nữ điều tra tự sử dụng que thử thai là một con số quá ít ỏi, trong khi đó chương trình có cung cấp que thử thai cho những phụ nữ đã từng sử dụng biện pháp tránh thai mà vẫn có thai.

Bảng 1. Các hình thức khách hàng nhận biết có thai   

Trả tiền cho dịch vụ

Phần lớn phụ nữ phải trả tiền cho dịch vụ NHT (75,8%) vì không có sổ bảo hiểm y tế. Nhưng rất nhiều khách hàng có sổ bảo hiểm đã không sử dụng vì cảm thấy phiền hà và không được tự do lựa chọn nơi NHT theo ý muốn của mình. 

Đáng chú ý tỉ lệ khách hàng sử dụng biện pháp tránh thai thất bại, nhưng vẫn trả tiền cho dịch vụ khá cao.  Một số nơi như huyện Hoà An (Cao Bằng), cán bộ y tế từ chối nhận tiền từ bảo hiểm cho các trường hợp NHT do sử dụng biện pháp tránh thai thất bại vì họ thấy phiền phức khi làm thủ tục thanh toán. Số tiền phải trả cho một lần sử dụng dịch vụ rất khác nhau, thay đổi theo từng năm và tuỳ theo qui định phải thanh toán ở các cơ sở dịch vụ. Nhiều khách hàng không thể biết số tiền phải trả cho khoản nào của dịch vụ, có người nói hình như để mua thuốc, mua tích kê, bông băng... chứ không phải tiền cho thủ thuật NHT.

Dịch vụ tư nhân ở thành thị yêu cầu khách hàng phải trả với giá khá cao, ví dụ tại thị xã Cao Bằng, một số chị em nói họ phải trả 175 nghìn đồng cho một lần hút ĐHKN tại cơ sở tư nhân, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận bởi vì họ biết đây là nơi có bác sĩ chuyên môn  cao trong tỉnh. Theo họ, sử dụng dịch vụ tư nhân có tính chất sòng phẳng, tốn ít thời gian chờ đợi và phục vụ tận tình hơn dịch vụ nhà nước.

Một số nơi dịch vụ công, tư không rõ ràng.  Đặc biệt các điều tra viên đã phát hiện ra rằng  một số phụ nữ trả lời họ chỉ phải trả có 15 nghìn đồng cho một lần hút điều hoà kinh nguyệt tại trung tâm y tế huyện, trong khi giá  của cơ sở dịch vụ này là 20 nghìn đồng cho một lần thực hiện dịch vụ. Qua phỏng vấn sâu đã phát hiện thấy số phụ nữ này đã tìm đến các y sĩ làm việc tại trung tâm y tế huyện ở phòng khám tư của họ. Sau đó họ đến thực hiện NHT tại trung tâm y tế huyện. Họ chỉ phải trả có 15 nghìn đồng với điều kiện không ghi vào sổ sách của trung tâm y tế huyện.

Nhận xét về chất lượng chăm sóc từ phía khách hàng

Trước đây, nhiều phụ nữ phàn nàn rằng khi đến NHT, khách hàng không hề được người cung cấp dịch vụ cảnh báo về hậu quả của nạo hút. Trong những năm gần đây, xu hướng này đã có sự thay đổi. Phần lớn số phụ nữ trả lời họ được cán bộ y tế cảnh báo về nhược điểm của NHT trước khi tiến hành thủ thuật (80,5%). Trong phỏng vấn sâu, nhiều phụ nữ nói mặc dù họ biết NHT là nguy hiểm, nhưng họ không còn sự lựa chọn nào khác. Một số  khách hàng mô tả rõ cả những biến chứng lâu dài của NHT nhưng lại cho rằng đó là những trường hợp hiếm hoi do cán bộ y tế “khuyếch đại”, thực sự họ nghĩ là không thể nguy hiểm như vậy.

Trong phỏng vấn sâu một cộng tác viên dân số, đồng thời là y tá xã về tình hình thực hiện KHHGĐ nói: “Tôi quản lý các đối tượng rất chặt, nhưng vẫn có người bị nhỡ kế hoạch và có nguy cơ sinh con thứ ba. Đối với những trường hợp này, chúng tôi phải đến tận nơi kiên trì giải thích và thuyết phục họ NHT...”. Dù rằng trước đó chị nói rằng thường xuyên khuyên nhủ chị em phụ nữ phải dùng biện pháp tránh thai để tránh mang thai ngoài ý muốn và hậu quả NHT sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người phụ nữ. Điều đó cho thấy chính cán bộ y tế, một mặt nhận thức và tuyên truyền về hậu quả của NHT, nhưng mặt khác trong những trường hợp đã xảy ra thì thường khuyên nhủ chị em phụ nữ chấp nhận NHT

Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm phụ nữ được chăm sóc từ phía người cung cấp dịch vụ

Nguồn: Điều tra năm 2000.

Sử dụng biện pháp tránh thai trước khi NHT.

Hiệu quả sử dụng biện pháp tránh thai có mối quan hệ mật thiết với NHT, hiệu quả càng cao thì sẽ giảm được tỉ lệ mang thai ngoài ý muốn, tỉ lệ NHT sẽ giảm đi. Tương ứng với điều tra nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994 và DHS năm 1997, điều tra này có khoảng 41% số đối tượng có sử dụng một biện pháp tránh thai mà vẫn mang thai ngoài ý muốn. Đây là một con số đáng lưu ý về tỉ lệ thất bại của các biện pháp tránh thai.

Vòng tránh thai chiếm tỉ lệ thất bại cao nhất (17%), tiếp đó các biện pháp tránh thai truyền thống (12%), thuốc uống và bao cao su 6% mỗi biện pháp. Điều đáng ngạc nhiên là theo nghiên cứu quốc tế, tỉ lệ thất bại của vòng tránh thai là 3%, trong khi đó tỉ lệ thất bại của biện pháp tránh thai truyền thống là 20%. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ thất bại do sử dụng vòng  tránh thai lại cao hơn biện pháp tránh thai truyền thống. Tuy nhiên chưa thể kết luận được tỉ lệ thất bại cho mỗi biện pháp là cao hay thấp vì điều tra này chỉ tập trung vào những phụ nữ đã từng NHT (Hình 1).  

Tất cả các cán bộ y tế được phỏng vấn sâu đều cho rằng các biện pháp tránh thai cung ứng tới địa phương chưa kịp thời và chưa đa dạng. "Không phải là người ta muốn đi nạo hút  thai. Đấy chỉ là do sự cung cấp biện pháp không phù hợp, họ không dùng, bỏ cuộc nên bị vỡ kế hoạch" (Cán bộ y tế, Trung tâm y tế huyện Q, Cao Bằng).

Nhiều cán bộ y tế cũng nói rằng phụ nữ từ chối sử dụng các biện pháp tránh thai sẵn có vì các tác dụng phụ mà họ từng gặp phải. Tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục ở khách hàng và kỹ năng của cán bộ y tế đã ảnh hưởng tới vấn đề này. Một nhân viên y tế cho rằng “Do người vận động đặt vòng không đúng chỉ định, đặt vòng trong khi còn viêm nhiễm gây rong kinh nên phải tháo vòng và bị vỡ kế hoạch”. Có người còn cho biết “nhiều khi đội lưu động xuống địa bàn đúng thời gian chống chỉ định của khách hàng, cho nên đôi khi khách hàng muốn được đặt vòng nhưng không thể thực hiện được” (Cán bộ y tế, Trung tâm y tế huyện Y, Ninh Bình)..  

Sử dụng biện pháp tránh thai hiện hành

Tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai sau NHT tăng lên một cách rõ rệt, biểu hiện tỉ lệ hiện đang sử dụng biện pháp tránh thai là 90% khách hàng. (Hình 2). Đáng chú ý cơ cấu sử dụng các biện pháp tránh thai đa dạng hơn trước, trong đó tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại rất cao. Điều tra tại Ninh Bình (một trong những tỉnh được thí điểm giới thiệu thuốc tiêm tránh thai DMPA), nhiều phụ nữ phàn nàn rằng họ nghe nói một số huyện trong tỉnh đã sử dụng thuốc tiêm tránh thai và họ muốn được sử dụng loại biện pháp này nhưng tại địa bàn của họ chưa có.   

Biện pháp tránh thai vĩnh viễn như triệt sản nữ đã được chấp nhận với một tỉ lệ khá cao (6%). Nhưng nhiều chị em vẫn phàn nàn là nếu họ có nhu cầu  triệt sản, thì  không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được tại huyện vì biện pháp tránh thai này thường chỉ thực hiện trong chiến dịch. Tuy nhiên, sự tham gia của nam giới chưa tích cực, biểu hiện không có một trường hợp triệt sản nam nào trong mẫu điều tra.

Biến chứng sau NHT

Trong bảng câu hỏi, các loại biến chứng được đề ra nhiều, nhưng chỉ thu được một số trả lời trong câu hỏi này. Không có đối tượng nào nói đến các biến chứng lâu dài như vô sinh, rau tiền đạo, chửa ngoài tử cung. Ngoài ra phần “Biến chứng khác” với thiết kế mở, hầu hết câu trả lời là giảm sút sức khoẻ, hoa mắt, chóng mặt...; những biểu hiện này không thể hiện dấu hiệu của một biến chứng thực sự.

Với câu hỏi về mất khả năng sinh sản hầu như không ai trả lời, nhưng trong phỏng vấn sâu có một số đối tượng sau NHT không còn sinh nở được nữa, nhưng họ không cho đó là biến chứng sau NHT. Đặc biệt có 5 trường hợp nói đến dấu hiệu mất kinh sau khi nạo hút, trong đó có 3 trường hợp bị biến chứng sau nạo hút, chưa có kinh trở lại sau 4 đến 5 năm, nhưng họ vẫn không nghĩ  đến khả năng vô sinh.

Nhận xét chung của các nhân viên y tế về tai biến do NHT gặp nhiều nhất là nhiễm khuẩn và viêm dính sau NHT. Các đối tượng đến NHT thường đã có sẵn viêm nhiễm đường sinh dục nên nguy cơ này càng cao. Đồng thời họ cũng thống nhất rằng cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ chuyên môn của người làm thủ thuật là các yếu tố cần thiết nhất để đảm bảo an toàn khi NHT.

Xử trí các dấu hiệu bất thường sau NHT

Phần lớn phụ nữ (84,8%) trả lời họ được hướng dẫn cách xử trí các dấu hiệu bất thường sau NHT, nhưng những chỉ dẫn này rất đơn giản, và cũng phần lớn số phụ nữ trả lời họ đều được hẹn khám lại, nhưng chỉ khi có dấu hiệu bất thường. Hầu hết số phụ nữ NHT đều được khuyên sử dụng một biện pháp tránh thai hiện đại (90%), nhưng không phải phụ nữ nào cũng áp dụng ngay sau đó.

4. Kết luận

Do còn hạn chế trong hệ thống ghi chép ở tuyến cơ sở,  đã làm cho nhiều trường hợp NHT không được ghi lại. Cần phải có những phương pháp đánh giá khi sử dụng số liệu này để có thể kết luận về tình hình NHT đã giảm đi.

Phần lớn khách hàng nhận biết mang thai theo kinh nghiệm bản thân và tự tìm kiếm dịch vụ NHT. Vấn đề này cần lưu ý vì có nhiều trường hợp NHT nhưng không thực sự có thai. Phần lớn khách hàng hiểu NHT không phải là một biện pháp tránh thai và những biến chứng của nó sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ của người phụ nữ, nhưng họ vẫn chấp nhận biện pháp NHT để loại bỏ việc mang thai ngoài ý muốn.

Tỉ lệ biến chứng trong số phụ nữ đã từng NHT tương đối cao. Công tác chăm sóc sau NHT và công tác tư vấn có được chú ý tới nhưng chưa đầy đủ. Phần lớn những phụ nữ sau NHT đã không quay lại cơ sở y tế để điều trị hoặc tiếp tục sử dụng dịch vụ cho thấy vấn đề chất lượng chăm sóc sau NHT cần phải được nghiêm túc xem xét nếu như muốn giảm tỉ lệ NHT.

Dịch vụ NHT, đặc biệt là dịch vụ hút ĐHKN  sẵn có và dễ tiếp cận ở cộng đồng cũng góp phần làm tăng tỉ lệ NHT.  Giá trả cho một lần tiến hành dịch vụ NHT thấp. Những yếu tố đó đã tạo nên việc  tiếp cận và lựa chọn cách giải quyết  mang thai ngoài ý muốn bằng NHT là một giải pháp có vẻ như dễ dàng  và thuận tiện đối với người phụ nữ.

Thất bại của việc sử dụng biện pháp tránh thai là một vấn đề tồn tại. Phần lớn những phụ nữ đã từng NHT chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai tăng và các biện pháp tránh thai sử dụng cũng đa dạng hơn. Tuy nhiên việc cung ứng và phân phối các biện pháp tránh thai có hiệu quả vẫn còn là một thách thức lớn cho chương trình KHHGĐ ở Việt Nam.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng giảm tỉ lệ NHT từ phía chính phủ, nhưng khuynh hướng  NHT sẽ giảm chậm, nếu như không kết hợp đồng bộ và chặt chẽ giữa việc cải thiện các yếu tố như chất lượng dịch vụ y tế và dịch vụ KHHGĐ, sửa đổi  chính sách về sức khoẻ, và làm chuyển biến thái độ cũng như sự tham gia đóng góp của cộng đồng trong vấn đề NHT thì khó có thể giảm tỉ lệ NHT cao như hiện nay.

5. Khuyến nghị

-  Nên xem tỉ lệ NHT cao như một biểu hiện hạn chế trong chương trình KHHGĐ và chăm sóc bảo vệ sức khoẻ phụ nữ.

- Cần có quy định cụ thể về chẩn đoán thai trước khi  tiến hành thủ thuật NHT để tránh  hút thai mà không thực sự có thai.

- Nên xét lại giá dịch vụ NHT để đảm bảo thủ thuật NHT được tiến hành an toàn hơn, chất lượng hơn,  đồng thời tránh lạm dụng việc NHT mà không thực sự có thai.

- Nên cải tiến sổ sách ghi chép về NHT cũng như theo dõi NHT để có đủ những thông tin cần thiết cho việc đánh giá và hoạch định chính sách cũng như quản lý chương trình.

- Vấn đề cập nhật thông tin, đào tạo, tái đào tạo, quản lý, và chăm sóc trong và sau NHT cho cán bộ y tế là cần thiết để cung cấp dịch vụ NHT an toàn, góp phần vào việc giảm tỉ lệ bệnh tật và tử vong của bà mẹ, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu và vùng xa.

- Rà soát lại các văn bản và qui định pháp lý nhằm hạn chế việc lạm dụng NHT quá dễ dàng như hiện nay.

Phương hướng nghiên cứu tiếp theo

- Cần có một khảo sát theo hộ gia đình với quy mô lớn hơn để có thể tính các tỷ lệ, chỉ số chuẩn về NHT,  để đánh giá chính xác về xu thế NHT hiện nay ở Việt Nam.

- Nội dung của cuộc khảo sát tiếp theo sẽ bổ sung thu thập các thông tin còn thiếu hoặc chưa rõ trong kết quả khảo sát ban đầu. Tìm hiểu thêm yếu tố liên quan tới biến chứng sau NHT từ phía người cung cấp dịch vụ và khách hàng, chất lượng chăm sóc sau nạo hút thai. Tìm hiểu thêm nguyên nhân sử dụng các biện pháp tránh thai thất bại từ phía khách hàng,  người cung cấp dịch vụ và nguồn cung ứng các biện pháp tránh thai này.

Theo TS. Nguyễn Quốc Anh (Giám đốc Trung tâm Thông tin, Ủy ban DS,GĐTE)
ThS. Hoàng Kim Dung (Viện Khoa học DS,GĐTE, Uỷ ban DS,GĐTE)
(Website Tổng cục DS-KHHGĐ)
thuhuyen
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 23 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top