Kiến thức về HIV/AIDS của người di cư
Theo Bộ Y tế, tính đến ngày 16/4/2005 tích lũy số người nhiễm HIV trong cả nước là 93.927 người.
Số bệnh nhân AIDS là 15.015 người. Số tử vong do AIDS từ trước đến nay là 8.812 người (Website Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 13/11/2005). Những con số này cho thấy đại dịch HIV/AIDS không hề có chiều hướng giảm, mà ngược lại tăng dần theo từng tháng. Đây cũng chỉ là những con số được báo cáo chính thức, còn số không được báo cáo chắc cũng không nhỏ. Đó chính là nguy cơ tiềm ẩn làm cho đại dịch trở nên nguy hiểm. Để phòng, chống HIV/AIDS có hiệu quả, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu hiểu biết về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV/AIDS. Nhưng các nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến hiểu biết của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (DHS, 2002); hiểu biết, thái độ và hành vi của thanh thiếu niên (Điều tra quốc gia về SKSS VTN, 2004; Điều tra ban đầu của chương trình RHIYA, 2005)1. Chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến hiểu biết về vấn đề này của người di cư.
Bài viết này sử dụng kết quả điều tra di cư Việt nam năm 2004 do Tổng cục Thống kê tiến hành tại 11 tỉnh thành phố, đại diện cho 5 khu vực (khu vực 1: Hà Nội; khu vực 2: vùng kinh tế Đông bắc, bao gồm Quảng Ninh, Hải Dương và Hải Phòng; khu vực 3: Tây nguyên gồm Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng; khu vực 4: Thành phố Hồ Chí Minh; khu vực 5: Khu công nghiệp Đông nam bộ gồm Bình Dương và Đồng Nai (Tổng cục Thống kê, 2004). Theo điều tra, người di cư gồm những người từ 15 đến 59 tuổi di chuyển từ huyện/quận này sang huyện/quận khác trong vòng 5 năm trước điều tra (8/1994-2004) và đã cư trú tại đây từ 1 tháng trở lên. Di cư ở đây là di cư nội địa và chỉ tính di cư của người Việt Nam. Riêng đối với Hà Nội, TP. HCM và Hải Phòng thì không tính những người di chuyển giữa các quận thuộc cùng một thành phố trong khoảng thời gian 5 năm nói trên.
1. Nghe và biết HIV/AIDS
Mức độ hiểu biết về bệnh HIV/AIDS của người di cư được đánh giá thông qua câu hỏi: "Anh chị có nghe đến bệnh HIV/AIDS hoặc Sida không"
Tỷ lệ người đã từng nghe đến bệnh HIV/AIDS trong cộng đồng người di cư và không di cư tương đối cao (96,6%). Tuy nhiên, ở Tây Nguyên tỷ lệ này mới đạt 86,5%. Đại bộ phận người di cư đã từng nghe đến HIV/AIDS từ trước khi di chuyển (95,5%), chỉ có 3,3% số người nghe tên HIV/AIDS sau khi di chuyển và có 1,2% không biết đến tên bệnh. Mức độ nhận thức cao của người di cư về HIV/AIDS cho thấy các chiến dịch truyền thông về HIV/AIDS ở Việt Nam khá thành công.
Bảng 1: Thứ tự các nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS nhiều nhất cho người di cư, chia theo nơi cư trú
![]() |
2. Nguồn thông tin chủ yếu về HIV/AIDS
Thông tin về HIV/AIDS được phổ biến rộng rãi đến người di cư bằng nhiều nguồn khác nhau. Nhưng phổ biến nhất là vô tuyến truyền hình (96,5%). Không có sự khác biệt tỷ lệ giữa người di cư và không di cư nhận được thông tin qua vô tuyến truyền hình.
Người di cư nhận thông tin nhiều hơn người không di cư từ: Đài (72,1% so với65,5%), Bạn bè/ người thân (50,5% so với 47,6%); Giáo viên/ trường học (20,0% so với 8,6%). Còn người không di cư nhận thông tin nhiều hơn người di cư từ: Báo/tạp chí (64,0% so với 62,5%); Tờ rơi/áp phích (36,5% so với 34,1%); Cán bộ y tế (20,8% so với 15,4%); các cuộc họp cộng đồng (22,7% so với 13,3%). Điều này cho thấy rằng phương tiện thông tin đại chúng là nguồn thông tin chủ yếu cung cấp thông tin về HIV/AIDS cho người di cư, nguồn thông tin từ cán bộ có chuyên môn cao (giáo viên và nhân viên y tế) còn chưa đến được với người dân nói chung và người di cư nói riêng. Người di cư ít tham gia sinh hoạt các cuộc họp cộng đồng hơn người không di cư.
![]() |
Sự khác biệt về tiếp cận các nguồn thông tin khác nhau theo tình trạng đăng ký hộ khẩu, không thực sự rõ nét. Điều thú vị là đối tượng thuộc diện KT4 lại tiếp cận vô truyền truyền hình cao hơn KT1. Bởi vì những người di cư thuộc diện KT1 đa số sống ở nông thôn (tỷ lệ đối tượng KT1 ở Tây Nguyên là 62%), có thể khi mới đến kinh tế còn nghèo nên gia đình không có vô tuyến. Những người thuộc diện KT2 nhận thông tin từ báo/tạp chí và tờ rơi nhiều hơn các đối tượng khác. Có lẽ là do KT2 là những người đã đăng kí hộ khẩu trong tỉnh thành phố nhưng lại không sống tại quận/huyện đã đăng lý hộ khẩu. Điều này thường chỉ xảy ra đối với những người di cư đến thành phố. Thành phố là nơi người dân đọc báo nhiều hơn khu vực nông thôn. Những người thuộc diện KT3, KT4 và chưa đăng kí hộ khẩu thường nhận thông tin từ bạn bè, người thân nhiều hơn các đối tượng thuộc KT1, KT2. Còn những người KT1 lại nhận thông tin từ họp cộng đồng nhiều hơn các đối tượng khác. Đây là một vấn đề mà các nhà hoạch định chiến lược truyền thông về HIV/AIDS cần lưu ý.
3 Hiểu biết về nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS
Để đánh giá hiểu biết về nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS cuộc điều tra đã sử dụng một câu hỏi có 7 phương án trả lời khác nhau về con đường lây nhiễm HIV/AIDS. Nếu mỗi phương án trả lời đúng được nhận 1 điểm, thì số điểm tối đa của người trả lời sẽ đạt 7 điểm.
Tỷ lệ trả lời đúng từ 6 đến 7 nguyên nhân lây nhiễm tương đối cao (63,1% đối với người di cư và 64,9% đối với người không di cư). Sự khác biệt theo vùng rất rõ rệt. Những vùng có tỷ lệ đối tượng trả lời đúng từ 6-7 điểm về nguyên nhân lây nhiễm HIV thấp là Tây Nguyên (55% đối với người di cư và 56,2% đối với người không di cư) và thành phố Hồ Chí Minh (53% đối với người di cư và 56,6% đối với người không di cư). Tỷ lệ trả lời đúng 6-7 nguyên nhân lây nhiễm HIV cao nhất là Hà Nội và vùng kinh tế Đông Bắc. Tại tất cả các vùng, người di cư có tỷ lệ trả lời đúng từ 6-7 con đường lây nhiễm luôn thấp hơn người không di cư.
![]() |
Phân tích theo thời gian cư trú của đối tượng cho thấy những đối tượng có thời gian di cư từ 1-2 năm có kiến thức về vấn đề này kém nhất (tỷ lệ trả lời đúng tà 6 đến 7 nguyên nhân lây nhiễm thấp nhất 61,9%, sau đó đến đối tượng đã di cư được 3-4 năm (62,4%). Điều này cho thấy rằng những người di cư cần thời gian khoảng 5 năm để hoà nhập với cộng đồng nơi đến về mọi mặt của đời sống xã hội.
4. Hiểu biết chính xác về nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS
Nhằm đánh giá sâu hơn kiến thức về HIV/AIDS của người di cư, cuộc điều tra này đã sử dụng câu hỏi: "Một người trông bề ngoài khoẻ mạnh, có khả năng nhiễm vi rút HIV không?"
Tỷ lệ người di cư có câu trả lời chính xác thấp hơn người không di cư (84,9% so với 86,6%). Nếu phân tích sự khác biệt theo giới tính của người di cư, thì thấy rằng nam có tỷ lệ trả lời đúng câu hỏi cao hơn nữ. Điều này đúng với mọi độ tuổi và cả người di cư và không di cư. Ví dụ: ở nhóm tuổi 15-29 tỷ lệ nam di cư trả lời đúng câu hỏi này là 87,3%, tỷ lệ tương ứng ở nữ di cư 86%, còn tỷ lệ nam không di cư là 91,5% và nữ không di cư là 85%.
Mặc dù tỷ lệ đối tượng có câu trả lời đúng câu hỏi này khá cao, nhưng lại có sự khác biệt theo vùng rất rõ rệt. Khu kinh tế Đông Bắc là vùng có tỷ lệ trả lời đúng câu hỏi này cao nhất. Vùng có tỷ lệ trả lời đúng câu hỏi thấp nhất là Tây Nguyên, sau đó là thành phố Hồ Chí Minh. Ở tất cả các vùng, tỷ lệ đối tượng trả lời đúng câu hỏi này ở nam cao hơn ở nữ và người di cư thấp hơn người không di cư.
Phân tích theo thời gian cư trú của người di cư cho thấy: thời gian cư trú càng lâu thì tỷ lệ hiểu biết càng cao (người có thời gian cư trú trên 5 năm có hiểu biết cao nhất: 85,5%. Người di cư mới (thời gian cư trú dưới 1 năm) có hiểu biết thấp nhất: 83%.
Phân tích theo tình trạng đăng kí hộ khẩu cho thấy, những người chưa đăng kí hộ khẩu có hiểu biết thấp nhất (78,2%), sau đó đến đối tượng thuộc diện KT4 (83,8%); KT3 (84,8%) và cao nhất là KT2 (97,35%).
5. Kiến thức về cách phòng tránh HIV/AIDS
Hai câu hỏi để xác định hiểu biết của đối tượng về cách phòng tránh HIV/AIDS là: 1) "Theo anh chị, người ta có thể tránh được bệnh AIDS hoặc tránh được vi rút gây bệnh AIDS không"? Người trả lời Có sẽ được hỏi tiếp câu hỏi 2) "Muốn tránh bệnh AIDS, vi rút HIV người ta phải làm gì?"
a. Biết cách phòng tránh HIV
Tỷ lệ đối tượng điều tra trả lời có cách phòng tránh HIV/AIDS cao (96%). Ở mọi độ tuổi, tỷ lệ người di cư trả lời không hoặc không biết cho câu hỏi này đều cao hơn người không di cư. Sự khác biệt giữa nam và nữ về nhận thức này cũng khá rõ, nghiêng theo hướng nam biết nhiều hơn nữ. Nhận xét này đúng với cả người di cư và người không di cư. Có 96,2% nam di cư và 96,9% nam không di cư trả lời có cách phòng tránh HIV/AIDS trong khi tỷ lệ này chỉ là 91,% nữ di cư và 95,8% nữ không di cư.
Số liệu phân tích theo vùng cho thấy, Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ người trả lời sai câu hỏi này cao nhất (14,0% đối với người di cư và 16,5% đối với người không di cư). Tỷ lệ này cao gấp 2,4 lần so với ở Hà Nội và cao gấp khoảng 2,7 đến 3 lần so với khu công nghiệp Đông Nam bộ. Tp Hồ Chí Minh (13,3% người di cư và 9,4% người không di cư) và khu kinh tế Đông Bắc (7,4% người di cư và 8,2% người không di cư)3 là những vùng có tỷ lệ người trả lời sai câu hỏi cao thứ hai. Tỷ lệ đối tượng trả lời sai câu hỏi thấp nhất là khu công nghiệp Đông Nam Bộ và Hà Nội.
Không tìm thấy quy luật về tỷ lệ trả lời đúng theo thời gian cư trú. Tuy nhiên, kết quả phân tích cũng chỉ ra là người di cư dưới 1 năm có tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất (83,9%). Nếu xếp loại hiểu biết của đối tượng theo tình trạng đăng kí hộ khẩu từ thấp đến cao, ta có: Chưa đăng kí hộ khẩu (73,8%); KT4 (83,9%); KT3 (84,8%); KT1 (85,3%) và KT2 (97,4%).
b. Hiểu biết về cách tránh HIV/AIDS
Đối tượng được phỏng vấn về 10 biện pháp phòng tránh lây nhiễm vi rút HIV, trong đó có 7 biện pháp đúng và 3 biện pháp sai. Nếu mỗi phương án trả lời đúng cho một điểm, kết quả được tính theo thang điểm 10. Như vậy người trả lời đúng toàn bộ các câu hỏi sẽ nhận được điểm 10. Điểm từ 9-10 được coi là có kiến thức cao. Điểm từ 7-8 được xếp loại khá. Điểm từ 5-6 được xếp loại trung bình và dưới 4 điểm được xếp loại kém. Điểm trung bình cho mẫu điều tra là 6,5 đối với người di cư và 6,6 đối với người không di cư. Điểm trung bình của nam là 6,5 và của nữ là 6,4.
Sự khác biệt theo tuổi không thật sâu sắc. Tuy nhiên, có thể thấy như sau: đối với nam di cư, tỷ lệ đối tượng có kiến thức loại khá (7-8 điểm) tăng lên khi độ tuổi tăng lên (32,7% nhóm 15-29 tuổi; 35,2% nhóm 30-44 tuổi và 38% nhóm 45-59 tuổi). Nhưng quy luật này không đúng đối với nam không di cư và phụ nữ (cả di cư và không di cư).
Trong cộng đồng người di cư, tỷ lệ đối tượng đạt điểm từ 7 trở lên về hiểu biết con đường lây nhiễm HIV/AIDS không có sự khác biệt giới tính (49,5% nam và 49,7% nữ), nhưng trong cộng đồng người không di cư, hiểu biết của nam cao hơn của nữ (52,3% nam và 50% nữ đạt từ 7 điểm trở lên).
Tỷ lệ đối tượng đạt dưới 5 điểm về hiểu biết con đường lây nhiễm HIV/AIDS ở cộng đồng người di cư thường cao hơn so với người không di cư. Điều này đúng với mọi độ tuổi và với cả nam và nữ. Tuy nhiên, chênh lệch ở nam lớn hơn nữ. Ví dụ: Tỷ lệ nam có điểm từ 4 trở xuống là 14,4% đối với người di cư và 11,8% ở nam không di cư. Con số tương ứng ở nữ di cư và không di cư là 16,2% và 16,0%.
Trong đánh giá hiểu biết về con đường lây nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ đối tượng đạt điểm thấp có sự khác biệt theo vùng rất rõ rệt. Có thể chia thành hai nhóm như sau:
- Nhóm 1: Tỷ lệ đối tượng có điểm từ 4 trở xuống thấp, chệnh lệch về hiểu biết giữa người di cư và người không di cư, giữa nam và nữ thấp. Thuộc nhóm này có các vùng Hà Nội và Vùng kinh tế Đông Bắc.
- Nhóm 2: Tỷ lệ đối tượng có điểm từ 4 trở xuống cao (từ 20% trở lên). là vùng Tây Nguyên và khu công nghiệp Đông Nam Bộ. Đặc điểm của các vùng này là: Thứ nhất, tỷ lệ hiểu biết của nam di cư thấp hơn nam không di cư (ví dụ tại vùng Tây Nguyên có 26,5% nam di cư và 17,8% nam không di cư đạt điểm dưới 4); Thứ hai, nữ di cư có trình độ hiểu biết cao hơn nữ không di cư nhưng không rõ nét (ví dụ ở Tây Nguyên có 29% nữ di cư và 30,6% nữ không di cư đạt điểm dưới 4, còn ở các vùng công nghiệp Đông Nam Bộ thì tỷ lệ này tương ứng là 23,3% và 24,9%).
Phân tích theo tình trạng di chuyển cho thấy tỷ lệ người đạt điểm dưới 5 cao nhất là KT1 và chưa đăng kí hộ khẩu. Những người thuộc diện KT4 có tỷ đạt điểm khá giỏi thấp nhất (46%). Thấp thứ hai là KT3 và chưa đăng kí hộ khẩu (KT3: 51,4%; chưa đăng kí hộ khẩu: 51,2%) Tỷ lệ này đạt cao nhất ở người thuộc diện KT2 (56%). Cần nhấn mạnh rằng đối tượng đạt điểm bình quân cao nhất trong cộng đồng người di cư là KT2 cũng chỉ mới đạt mức trên trung bình (6,8 điểm) và cũng chỉ hơn được đối tượng đạt điểm thấp nhất là KT4 và chưa đăng kí hộ khẩu có 0,4 điểm.
![]() |
Nếu xét chi tiết theo từng biện pháp phòng tránh thì quan hệ tình dục an toàn và tránh tiêm chích là những biện pháp được nhiều người kể tên nhất (68,4% người di cư và 68,2% người không di cư nêu được biện pháp tránh tiêm chích, 64% người di cư và 68% người không di cư nêu được biện pháp quan hệ tình dục (QHTD) an toàn. Nói chung, không có sự chênh lệch lớn giữa người di cư và người không di cư trong hiểu biết về các biện pháp có thể phòng tránh HIV. Tuy nhiên, biện pháp sử dụng bao cao su (BCS) khi QHTD mới chỉ có khoảng 60% số đối tượng cho là cần thiết (60,5% người di cư và 62,5% người không di cư). Tỷ lệ người cho rằng cần chung thuỷ với một bạn tình rất thấp: 43,1% người di cư và 45% người không di cư.
Như vậy, có thể kết luận rằng hiểu biết về con đường lây nhiễm HIV chưa cao, vẫn còn tới 40% số người không biết rằng muốn tránh HIV/AIDS khi QHTD cần sử dụng BCS. Đây vẫn là một khoảng trống lớn cần cho công tác truyền thông về cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS, vì quan niệm chung thuỷ một vợ một chồng cũng chỉ được 40% đối tượng là người di cư chấp nhận.
6. Đánh giá về nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư
Đối tượng điều tra được đưa ra ý kiến đánh giá về nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư so với người không di cư. Kết quả điều tra cho thấy nếu như có tới 51,5% người không di cư cho rằng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS ở người di cư cao hơn người không di cư, thì chỉ có 41,2% người di cư đồng ý với ý kiến này. Sự chênh lệch giữa nam và nữ cũng như giữa các độ tuổi về ý kiến đánh giá này không thật rõ nét. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy, đối với người không di cư thì tuổi càng cao càng đánh giá khả năng lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư càng cao (46,6% độ tuổi 15-19; 51,6% độ tuổi 30-44 và 57% độ tuổi 45-59 cho rằng khả năng lây nhiễm HIV ở người di cư cao hơn người không di cư).
Vùng kinh tế Đông Bắc và Hà Nội có tỷ lệ đối tượng cho rằng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư cao hơn người không di cư cao nhất. Điều này đúng với cả nam và nữ, cả người di cư và người không di cư. Tây Nguyên là nơi có tỷ lệ người cho rằng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư cao hơn người không di cư thấp nhất.
Nhìn chung, ở tất cả các nơi cư trú, nhận định về nguy cơ lây nhiễm cao của người di cư trong cộng đồng người không di cư thường cao hơn người di cư nhận định về nguy cơ của chính bản thân họ.
Phân tích theo tình trạng đăng kí hộ khẩu cho thấy, đối tượng thuộc diện KT2 đánh giá nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư cao hơn người không di cư cao nhất. Nhưng điều cần chú ý là tỷ lệ những người thuộc diện KT4 cho rằng khả năng lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư thấp hơn người không di cư cao nhất (14,2% so với 7% là tỷ lệ cao nhất của các nhóm còn lại). Trên thực tế nhiều nghiên cứu đã cho rằng khả năng lây nhiễm của người di cư thường cao hơn người không di cư (Xiushi Yang et al, 2005; Archana K. Roy, 2005). Đây cũng là một vấn đề cần chú ý trong công tác truyền thông.
Kết luận
Biết tên bệnh và nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư tương đối cao, những kiến thức về cách phòng tránh HIV/AIDS chỉ đạt loại trung bình khá, chỉ có khoảng 50% người di cư đạt điểm từ khá trở lên. Ở mọi độ tuổi, mọi vùng, người di cư có hiểu biết thấp hơn người không di cư. Tây Nguyên là vùng có hiểu biết về vấn đề này kém nhất. Nhưng bên cạnh đó, ở Tp Hồ Chí Minh; khu công nghiệp Đông Nam Bộ và Hà Nội hiểu biết của người di cư về vấn đề này chưa cao. Điều này cho thấy cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về vấn đề này, không chỉ ở các vùng sâu vùng xa mà ngay cả ở các thành phố lớn.
Hiểu biết về HIV/AIDS trong cộng đồng người di cư có sự phân biệt khá rõ rệt. Những đối tượng thuộc diện chưa đăng kí hộ khẩu, KT3 và KT4 thường có hiểu biết thấp hơn đối tượng khác. Người di cư mới đến có hiểu biết kém hơn người di cư trên 5 năm. Hiểu biết kém nhất về vấn đề này là người di cư từ 1-4 năm. Có lẽ là họ đã ít quan hệ và chưa thực sự hoà đồng với nơi đến. Vì vậy, việc tiếp cận các dịch vụ truyền thông của họ gặp khó khăn.
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm
Dân số và phát triển - 20 giờ trướcGĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.
Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.
Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.
Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.
Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcGĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.
Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcGĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.
Cụ bà 117 tuổi chăm ăn 3 cốc "thức ăn" này mỗi ngày, kết quả là không suy giảm nhận thức, mức độ viêm nhiễm thấp như người trẻ tuổi
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcViêm nhiễm không chỉ xảy ra khi tuổi tác tăng lên!
Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcGĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.
Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.
U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.
Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư
Dân số và phát triểnGĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.



