Hà Nội
23°C / 22-25°C

Kỷ nguyên dân số vàng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Thứ ba, 15:57 29/11/2011 | Dân số và phát triển

Từ lâu, dân số học nỗ lực tìm hiểu tác động qua lại giữa dân số và kinh tế.

Những năm gần đây, nhiều nhà dân số học quan tâm đến hiện tượng mà họ gọi bằng nhiều thuật ngữ: cửa sổ dân số, cơ hội dân số, lợi tức dân số, kỷ nguyên dân số vàng. Bài viết xem xét chủ đề này dựa trên việc tham khảo một số bước tiến mới trong việc nghiên cứu tác động tích cực tiềm tàng của dân số đối với tăng trưởng kinh tế và áp dụng xem xét vấn đề này ở Việt Nam.

1. Tình hình nghiên cứu, nguồn số liệu và cơ sở lý thuyết
1.1. Ba luận điểm về mối liên hệ dân số và tăng trưởng kinh tế

Lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm lý luận về quan hệ dân số và tăng trưởng kinh tế. Mầm mống từ thời Thomas Malthus và nổi lên từ cuối thập niên 1940, "lý thuyết dân số học bi quan" cho rằng dân số ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế. Nổi bật từ đầu thập niên 1980, "lý thuyết dân số học lạc quan", ngược lại, cho dân số là cơ sở hỗ trợ phát triển kinh tế. Một số  nhà dân số học thận trọng hơn với ảnh hưởng tích cực đương nhiên của yếu tố dân số. Họ đại diện cho cái được gọi là "lý thuyết dân số học trung tính" trong thập niên 1990: dân số không tự động có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến kinh tế, mà có một loạt yếu tố can thiệp khác quyết định xu hướng ảnh hưởng này (Bloom, 2001b và 2003).

Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy biến đổi dân số không nhất thiết hoặc ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến kinh tế, mà phụ thuộc vào khuôn mẫu biến đổi cơ cấu tuổi dân số cũng như một số nhân tố khác. Phân bố cơ cấu tuổi là một cơ chế tiềm tàng có thể tác động thuận đến thành công kinh tế. Nhưng điều này sẽ chỉ xảy ra khi một quốc gia có những thể chế xã hội, kinh tế và chính trị cũng như những chính sách thích hợp, cho phép hiện thực hoá tiềm năng tích cực của quá trình dân số. Đây là điều đã xảy ra ở một số nước Đông Á và Đông Nam Á khi tận dụng được cơ hội dân số cho phát triển kinh tế kể từ thập niên 1960 đến nay.
1.2. Tình hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Từ những năm 1990 lại đây, các nhà dân số học đặt lại vấn đề mối quan hệ dân số và kinh tế từ góc độ xem xét hiện tượng lợi tức dân số nảy sinh từ quá độ dân số. T. Kuroda nói đến "kỷ nguyên dân số vàng" khi bàn về vấn đề già hoá dân cư ở Hội nghị dân số khu vực châu á-Thái Bình Dương (Kuroda, 1991). ADB chú trọng đến vấn đề này trên toàn châu Á trong công trình năm 1997 "Châu Á đang nổi lên" (ADB, 1997). Nhóm nghiên cứu do D.E. Bloom dẫn đầu đưa ra tổng quan rộng lớn bao quát một loạt nước về hiện tượng lợi tức dân số đối với kinh tế. Các tác giả nhấn mạnh một sự thực là bản thân lợi tức dân số không tự động dẫn đến ích lợi kinh tế, mà chỉ được hiện thực hoá bởi môi trường chính sách (D.E. Bloom, 1997, 2001a, 2001b, 2003). Đã có một số hội thảo quốc tế bàn đến vấn đề này, gần đây hơn cả là hội nghị ở Bắc Kinh ngày 10-11 tháng 5 năm 2004 với tiêu đề "Cửa sổ dân số và sự già hoá lành mạnh: Những thách thức và cơ hội về kinh tế xã hội". Nhóm nghiên cứu K. Wongboonsin, P. Guest và V. Prachuabmoh phân tích cơ hội dân số của Thái Lan, một nước chỉ mới đi trước Việt Nam ít nhiều trong quá độ dân số (K.Wongboonsin et la, 2004).
1.3. Khái niệm "lợi tức dân số"

Để diễn tả thực tế nêu trên, các nhà dân số học thế giới sử dụng thuật ngữ "lợi tức dân số" (demographic dividend). Lợi tức dân số được định nghĩa đơn giản là những ích lợi kinh tế có được từ biến đổi dân số. Những ích lợi này có thể tích tụ ở cấp độ cá nhân cũng như xã hội. Chẳng hạn, nó dẫn đến việc nâng cao mức sống, cá nhân có thể kiếm được thu nhập cao hơn để tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư. Nó tạo khả năng cho xã hội có nguồn nhân lực năng suất hơn dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Lợi tức dân số chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định của quá độ dân số, và thường chỉ diễn ra trong vài thập niên. Như vậy, quá độ dân số là quá trình bên trong chi phối lợi tức dân số.

Cơ hội cho một quốc gia tận dụng được lợi tức dân số phụ thuộc vào 4 điều kiện có liên hệ qua lại với nhau. Thứ nhất, các điều kiện dân số: một sự kết hợp của việc giảm mức chết, mức sinh và tỷ suất phụ thuộc. Thứ hai, cách thức diễn tiến của quá độ dân số. Lợi tức dân số chỉ xuất hiện vào khoảng giai đoạn giữa của quá độ dân số. Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực. Thứ tư, môi trường chính sách có tính hỗ trợ cho lực lượng lao động, bao gồm chính sách kinh tế (thị trường mở, năng động), chính sách lao động tạo ra thị trường lao động linh hoạt, chính sách phát triển nguồn nhân lực (hệ thống giáo dục và y tế có chất lượng cao), chính sách tài chính hỗ trợ cho đầu tư và tiết kiệm.

Quá độ dân số cung cấp khả năng có lợi tức dân số do tăng tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động. Lợi tức dân số, trong khi là hệ quả của quá độ dân số, chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua những nhân tố khác, trước hết là năng suất lao động của nguồn lao động, trình độ nguồn nhân lực (thông qua giáo dục cao hơn hoặc tốt hơn). Để hiện thực hoá lợi tức dân số, các nhà chiến lược phải cải thiện năng suất lao động và nguồn nhân lực thông qua nâng cao giáo dục và đào tạo, tạo ra một môi trường chính sách hỗ trợ cho đầu tư và tiết kiệm. 

Chúng tôi sử dụng thuật ngữ "cơ hội dân số" để nói đến "lợi tức dân số" đối với tăng trưởng kinh tế liên quan đến mức giảm tổng tỷ suất phụ thuộc, bao gồm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, khi tổng tỷ suất phụ thuộc giảm, bắt đầu bước vào thời kỳ dân số học gọi là "cửa sổ cơ hội". Giai đoạn hai, khi chỉ số này xuống dưới ngưỡng 50%, được gọi là "kỷ nguyên vàng". Kỷ nguyên vàng sẽ kết thúc khi tổng tỷ suất phụ thuộc bắt đầu tăng trở lại và vượt ngưỡng 50%.

Tổng tỷ suất phụ thuộc là đại lượng của số người trong độ tuổi 0-14 cộng với số người trong độ tuổi 65 trở lên (65 ) chia cho số người trong độ tuổi 15-64. Nó nói lên tương quan giữa số người không ở trong độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi và 65 trở lên) so với số người trong độ tuổi lao động (15-64) trong một quần thể dân cư nhất định. Cần lưu ý khái niệm dân số trong độ tuổi lao động là khác nhau giữa các nước. Nhiều nước tính độ tuổi lao động trong khoảng 15-59, với cách tính này người ta sẽ có những đánh giá khác về "lợi tức dân số" (K. Wongboonsin et la, 2004).

2. Lợi tức dân số và tăng trưởng kinh tế 
2.1. Các nước trong khu vực

Ở châu á, khu vực Đông Á tiến sớm nhất đến thời kỳ "lợi tức dân số". Đây là trường hợp của Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Có tính toán cho rằng cơ hội dân số đã đóng góp 1/3 mức tăng trưởng kinh tế của ba nước trên trong thời kỳ tăng trưởng nhanh 1960-1990 (Bloom, 1997 và 2001a).  

Bảng 1 cho thấy tổng tỷ suất phụ thuộc của Nhật, Singapore, Hàn Quốc đã giảm trong thời kỳ nền kinh tế của họ tăng trưởng nhanh. Tổng tỷ suất phụ thuộc ở Trung Quốc bắt đầu giảm dần từ thập niên 1970, giảm nhanh trong thập niên 1980. Sau giai đoạn khởi đầu cải cách (1978-1992), Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách theo chiều sâu ở thập niên 1990 đúng vào lúc mà ngưỡng tỷ suất phụ thuộc bắt đầu giảm xuống dưới 50. Giống Singapore, Trung Quốc sẽ có một kỷ nguyên dân số vàng dài tới 40 năm. Những nước nói trên thể hiện mối liên hệ đáng chú ý giữa việc các điều kiện chín muồi cho phát triển kinh tế đã diễn ra gặp sự hỗ trợ của biến đổi cấu trúc tuổi dân số theo hướng một nguồn lực lao động lớn được cung ứng đúng vào lúc mà nền kinh tế có yêu cầu. Sự gặp gỡ của hai yếu tố này đã có tác động thúc đẩy thêm thành công kinh tế.

Các nước Đông Nam Á đang tiếp bước. Theo tính toán của ADB (ADB, 1997), lợi tức dân số ở Đông Nam Á hiện đóng góp khoảng 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng thu nhập đầu người hàng năm. Vào khoảng 2015, con số này dự đoán sẽ tăng gấp đôi. Lợi tức dân số của khu vực Đông Nam Á đang diễn ra sẽ không mạnh bằng khu vực Đông Á thời kỳ 1960-1990. 
2.2. Cơ hội dân số ở Việt Nam

Theo Liên hợp quốc ước tính (Bảng 1), tổng tỷ suất phụ thuộc của dân số Việt Nam bắt đầu giảm sau 1975, giảm nhanh từ giữa thập niên 1980. Chỉ số này giảm xuống dưới 50 vào khoảng trước 2010. Theo dự báo dựa trên Tổng Điều tra dân số 1999, với phương án mức sinh giảm, Việt Nam có tổng tỷ suất phụ thuộc là 61 vào năm 2000, 50 vào năm 2005 và 43 vào năm 2010 (Tổng cục thống kê/Dự án VIE/97/P14. 2001). Trong thời kỳ 2000-2005 tổng tỷ suất phụ thuộc giảm 11 điểm phần trăm; trong vòng 10 năm 2000-2010 giảm tới 18 điểm phần trăm, một tốc độ giống Trung Quốc thời kỳ 1975-1990 và Hàn Quốc thời kỳ 1970-1990. Như vậy, giai đoạn đầu của cơ hội dân số đã đến với Việt Nam từ khoảng thập niên 1980. Sau 2005, cơ hội dân số sẽ bước vào giai đoạn hai: Việt Nam tiến vào kỷ nguyên dân số vàng của mình, kéo dài khoảng 30 năm.

2.3. Điều kiện hiện thực hoá cơ hội dân số

Kết quả các nghiên cứu chỉ ra rằng "cơ hội dân số" không tự động, không tất yếu đem lại tác động tích cực, nó phải được giành lấy. Trong khi một số nước đã hiện thực hoá được tiềm năng tích cực do cơ hội dân số mang lại, thì nhiều nước khác đã bỏ lỡ cơ hội này. Có hàng loạt điều kiện cần để hiện thực hoá cơ hội dân số, mà đôi khi vượt quá tầm chủ động của một quốc gia, một Chính phủ (chẳng hạn chiến tranh, bất ổn của môi trường quốc tế, ...). Tuy nhiên, xét về mặt chủ quan quốc gia, thì tầm quan trọng hàng đầu thuộc về môi trường chính sách trong nước. Không có môi trường chính sách phù hợp, trong trường hợp tốt nhất đất nước sẽ bỏ lỡ cơ hội tăng trưởng cao dài hạn khi cơ hội dân số bắt đầu. Trong trường hợp tồi tệ sẽ là kinh tế trì trệ, bất ổn chính trị-xã hội do quá tải dân số dẫn đến thất nghiệp cao.

Nếu cơ hội dân số và đặc biệt là giai đoạn dân số vàng diễn ra trùng với thời kỳ kinh tế ổn định và cất cánh, đồng thời hệ thống giáo dục thực hiện tốt chức năng chuẩn bị học vấn và nghề nghiệp cho lao động, thì nguồn nhân lực lao động tăng sẽ trở thành động lực mạnh của kinh tế (tăng việc làm, thu nhập, tiết kiệm, tiêu dùng).  Ngược lại, nếu hệ thống kinh tế và giáo dục yếu kém không đáp ứng được với sự bùng nổ nhân lực này, xã hội sẽ chứng kiến tình trạng thất nghiệp tràn lan trong giới trẻ, thiếu chỗ làm, thiếu nhân lực được đào tạo, dẫn đến mất ổn định xã hội. Cơ hội dân số đòi hỏi nhà vạch chính sách phải có những lựa chọn đúng để nắm bắt được nó.

3. Những vấn đề của việt Nam

Đối với Việt Nam, tận dụng cơ hội dân số đòi hỏi chú ý đến ba chủ đề: nâng cao nhận thức, quán triệt yếu tố "cơ hội dân số" vào các khu vực chính sách cơ bản, đẩy mạnh ngay một số nghiên cứu có liên quan.
3.1. Về mặt nhận thức

Cơ hội dân số đang diễn ra, kỷ nguyên vàng của dân số Việt Nam đang đến, điều này cần đặt vào đúng vị trí của nó trong mọi tính toán chiến lược hiện nay. Thừa nhận đúng mức tầm quan trọng đó sẽ khiến cho nhiều yếu tố khác phải được nhìn dưới một khía cạnh mới. Chẳng hạn, nếu thực sự thừa nhận "yếu tố dân số" thì chiến lược kinh tế không thể không đi theo hướng ưu tiên tạo nhiều việc làm (labour-based), còn giáo dục trở nên một yếu tố có tầm chiến lược đặc biệt và lâu dài, phải được nhấn mạnh theo hướng phổ cập, dạy nghề, đại chúng, tiên tiến. Ngược lại, những mục tiêu kinh tế hoặc xã hội, cho dù rất hấp dẫn hoặc đầy thuyết phục, nhưng nếu tỏ ra không tận dụng được cơ hội dân số hoặc có khả năng khiến cơ hội này trở thành nguy cơ, thì cần kiên quyết không đưa vào chính sách hoặc ít nhất cũng phải tính đến những hậu quả của chúng.
3.2. Về mặt chính sách

Cơ hội dân số tác động đến kinh tế thông qua 3 cơ chế: cung cấp lao động, tiết kiệm, và vốn con người. Những cơ chế nói trên có phát huy tác động tiềm tàng của chúng hay không, điều này phụ thuộc vào môi trường chính sách. Một lượng lớn người trong độ tuổi lao động sẽ chỉ có khả năng tham gia sản xuất với năng suất và hiệu quả nếu thị trường lao động đủ năng động và linh hoạt cho phép phát huy lao động, nếu chính sách kinh tế vĩ mô khuyến khích đầu tư, nguồn lao động này được trang bị đủ kỹ năng thích hợp với yêu cầu của nền kinh tế. Người ta chỉ tiết kiệm khi dễ dàng tiếp cận được những cơ chế tiết kiệm thích hợp, tin vào sự chắc chắn và ổn định của thị trường tài chính trong nước. Như vậy, cơ hội dân số chỉ tạo ra điều kiện, còn môi trường chính sách mới là yếu tố quyết định cho phép tận dụng được cơ hội dân số. Trong một loạt chính sách tác động trực tiếp và gián tiếp, có 4 vùng chính sách đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hiện thực hoá cơ hội dân số, đó là chính sách kinh tế, giáo dục, sức khoẻ, và bảo trợ xã hội.

Một số nghiên cứu (Bloom, 1997, 2001b. Navaneetham, 2002) gợi ý rằng các nước thành công trong việc tận dụng cơ hội dân số ở thập niên 1960-1980 là những nước theo đuổi chính sách kinh tế mở cửa, khuyến khích tính linh hoạt của thị trường lao động và tín dụng, khuyến khích đầu tư và tiết kiệm. Tuy nhiên, bản thân những chính sách này cũng không tự động thành công, chúng phải được điều hành đúng đắn và khéo léo.
Điều lo ngại là trong khi cơ hội dân số ở Việt Nam đã diễn ra, kỷ nguyên dân số vàng (giai đoạn hứa hẹn nhất của cơ hội dân số) đang sắp bắt đầu, thì những chính sách đóng vai trò trực tiếp trong việc hiện thực hoá cơ hội này (chính sách kinh tế, giáo dục, sức khoẻ, và bảo trợ xã hội) lại đang chứa đựng hàng loạt vấn đề bức xúc, chưa có đủ những giải pháp căn bản và đột phá. 
3.3. Về mặt nghiên cứu

Nhìn chung ở Việt Nam, các nhà kinh tế học và các nhà lập kế hoạch hoặc hoạch định chính sách kinh tế dường như ít chú ý đến yếu tố dân số, còn các nhà dân số học và các nhà hoạch định chính sách dân số lại thường tập trung nhiều vào giảm mức sinh, sức khoẻ sinh sản và tình dục, tuy đã có nhiều quan tâm đến di dân và gần đây có những bước tiến đáng chú ý về nghiên cứu vị thành niên. Hệ quả là một khoảng trống: mối liên hệ dân số và kinh tế chưa được nghiên cứu và chú trọng đầy đủ. Đây có lẽ cũng là biểu hiện của tình trạng thiếu nghiên cứu đa ngành và liên ngành nói chung ở Việt Nam. Điều này rất tương phản với nhiều nước khác.

Cần sớm tiến hành những nghiên cứu để hiểu đầy đủ hơn biến đổi cấu trúc tuổi của dân số Việt Nam trong thời gian qua và sắp tới, tìm hiểu và dự báo được tác động qua lại giữa biến đổi cấu trúc tuổi và kinh tế. Phải chăng, về mặt chính sách, cơ hội dân số Việt Nam phần nào đã bị bỏ lỡ trong thập niên 1980; nhưng về mặt thực tế, cơ hội dân số đã là một yếu tố giảm nhẹ tác động của khủng hoảng kinh tế ở thời kỳ này? Phải chăng cơ hội dân số đã đóng góp vào thành công kinh tế Việt Nam từ thập niên 1990 cho đến nay? Nếu có, mức đóng góp là bao nhiêu?

Quan trọng hơn là câu hỏi nghiên cứu hướng vào tương lai: làm thế nào tận dụng được kỷ nguyên dân số vàng, giai đoạn hai của cơ hội dân số, đang sắp bắt đầu. Chủ đề nghiên cứu cần phân tích biến đổi cơ cấu tuổi của khối dân cư trong độ tuổi lao động, có lưu ý đến xu hướng già hoá dân cư sẽ bắt đầu chuyểnnhanh sau năm 2010 (Bùi Thế Cường, 2001). Chú trọng những nghiên cứu nhằm tạo ra đột phá về nhận thức và chính sách trong việc lựa chọn mô thức đầu tư và tăng trưởng; cải thiện môi trường chính sách kinh tế; đổi mới sâu rộng thị trường lao động; cải cách giáo dục, y tế và bảo trợ xã hội.
Theo PGS.TS. Bùi Thế Cường
(Tạp chí DS&PT, số 10/2004, Website Tổng cục DS-KHHGĐ)
thuhuyen
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 20 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top