Những di sản văn hóa bị lãng quên đến bao giờ?
GiadinhNet - Di sản có thể tiếp tục sống trong đời sống đương đại như thế nào? Di sản sẽ đi vào “bảo tàng” và trở thành ký ức của chúng ta về các giá trị văn hóa trong quá khứ? Hay, di sản có thể “sống”, có thể phát triển song hành cùng đời sống đương đại?... Đó là những câu hỏi đang được đặt ra với ngành văn hóa.
![]()
Di sản nổi tiếng... mất hút
Một trong những di sản bị lãng quên là làng chèo Làng Khuốc (Thái Bình), nổi tiếng là cái nôi của chèo xứ Bắc nhưng ít người biết đây cũng là nơi còn giữ hai miếng chèo “độc” chỉ làng này mới có. Nhưng có điều, dường như chính vì sợ chèo cổ bị “phá” như thực tế đang diễn ra mà nghệ nhân quyết giấu nghề. Bởi thế, “cái nôi chèo” này.
Hay chuyện về chèo Tàu - một loại hình diễn xướng hầu Thánh ở Tổng Gối (Đan Phượng, Hà Nội) đã từng được lập hồ sơ đề cử Di sản thế giới năm 2001. Đến nay, dù đã có rất nhiều nỗ lực sưu tầm khôi phục chèo Tàu nhưng do bị thất truyền đã quá lâu, lệ Thánh lại 25 năm mới mở hội một lần, nên “ứng cử viên” di sản Thế giới cũng chỉ “loay hoay trong bốn bức tường”, mọi việc vẫn còn dang dở. Ngay tại quê hương của chèo Tàu, các nghệ nhân gắn bó với chèo Tàu nhất vẫn ngày ngày khắc khoải đi tìm chèo Tàu đích thực(?).
Hiếm ai biết tới một loại chèo gọi là Chèo Ma chỉ phổ biến ở Mường Muốt (xã Cẩm Thành, Cẩm Thủy, Thanh Hóa). Những làn chèo lạ này được hát thâu đêm suốt sáng, kéo dài hết ngày này qua ngày khác, có thể “tái diễn” hàng chục ngày. Diễn chèo mà như “diễn xiếc” trước linh cửu người chết chỉ để nhằm một mục đích là…làm vui cho đám ma.
Hay ở làng Ngọc Trục (xã Thiệu Tiến, Thiệu Hóa, Thanh Hóa) cũng có một loại hình múa rối mà tương truyền “có từ thời Nguyễn Trãi giả làm gái đi bán dầu để tìm Lê Lợi xin đầu quân” song cũng chưa thấy sử sách nào nhắc đến. Những con rối to lớn, đồ sộ được làm bằng cốt tre như đồ mã mà cử động được như thật nhưng bị “hóa” ngay sau khi diễn xong.
Chưa hết, như trường hợp của ông Kiểu Kâu - một trong những nghệ nhân nổi tiếng nhất Tây Nguyên, người đã biên soạn, dịch sang tiếng Việt 75 bộ sử thi M’ Nông, 15 truyện cổ và ba tập lời nói vần cùng rất nhiều đầu sách có giá trị khác. Ông mới mất cách đây hơn một năm, nhưng mãi tới ngày giỗ đầu, người ta mới biết di cảo của ông với nhiều công trình chưa được công bố và hiện vẫn còn “ở ẩn” trong chiếc máy tính cá nhân của ông mà vì nguyên nhân nào đó khiến nó không khởi động lại được…
Đặc biệt là sự mai một khá rõ của một số loại hình di sản như truyền khẩu, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn và tập quán xã hội. Ngay giữa Thủ đô điển hình như: tiếng lóng ở làng Đa Chất (Phú Xuyên); hát Trống quân (Phú Xuyên, Thường Tín, Phúc Thọ), Hát Tuồng cổ (Chương Mỹ)… cũng mai một.
Ngoài ra, sự thu hẹp, biến đổi không gian văn hóa làm biến đổi thực hành di sản. Hay những bất cập về nhận thức trong công tác quản lý dẫn đến tác động làm sai lệch giá trị di sản. Trong khi đó, số lượng người thực hành ngày càng ít đi nên việc trao truyền di sản ngày càng khó khăn hơn. Mặt khác, nguồn nhân lực cho quản lý di sản rất thiếu, năng lực hạn chế, chưa có điều kiện đào tạo và tập huấn thường xuyên trong khi nguồn tài chính hỗ trợ cộng đồng phục hồi, bảo tồn và trao truyền di sản rất ít, không thường xuyên.
Báo động “đỏ”
Là tài sản ông bà, cha mẹ để lại, di sản văn hóa được truyền lại từ đời này qua đời khác. Đó là một phần quan trọng trong sự giàu có và bền vững của văn hóa quốc gia. Thế nhưng, trong khi người ta có thể giữ chặt, thậm chí tranh chấp những mảnh đất hương hỏa - những tài sản được thừa kế thì không ít di sản văn hóa lại nằm trong sự thờ ơ, hoặc bất lực của chính những người đang lưu giữ chúng khiến nhiều di sản quý báu đã và đang có nguy cơ biến mất hàng ngày.
Song song với nguy cơ ấy là những sự cố khác như cải biên, cải tiến, phục dựng di sản mà nhiều người cho rằng đã tác động đến uy tín nguyên vẹn của chúng, thậm chí đã làm hỏng di sản, hoặc làm biến mất chúng.
Một số nhà văn hóa nhận định rằng, những “báu vật văn hóa sống” đang có nguy cơ biến mất. Chúng ta hãy nghĩ cách cứu lấy từng cái bằng những biện pháp cụ thể, thiết thực… để di sản tiếp tục “sống” trong đời sống đương đại, sống thật chứ không phải “sống giả cầy”, “sống bảo tàng”, “sống thực vật”. Cần đánh thức tình yêu, thái độ trân trọng và sự hiểu biết các giá trị di sản văn hóa của mọi người dân, của toàn xã hội, bởi vì đó chính là gốc của việc bảo vệ, giữ gìn và phát triển các giá trị của di sản văn hóa truyền thống.
Thùy Dương/Báo Gia đình & Xã hội