Thai nhi có được hưởng thừa kế không?
GiadinhNet - Trước khi lập gia đình với tôi, anh ấy đã có một đời vợ và hai người con trai. Vợ chồng tôi đang sinh sống trên một ngôi nhà 5 tầng do cha mẹ anh ấy để lại. Cách đây 2 tháng, trong lúc đưa tôi đi khám thai đứa con thứ hai, chẳng may vợ chồng tôi gặp tai nạn giao thông và anh ấy đã tử vong.
Sau ngày chồng tôi mất, 2 con riêng của chồng tôi đòi chia di sản thừa kế. Vì chồng tôi không để lại di chúc nên 2 người con riêng của chồng tự ý chia mà không chia cho đứa con đang ở trong bụng tôi. Xin hỏi, theo luật chia thừa kế thì thai nhi có được hưởng thừa kế không?
Nguyễn Thị Hoa (quận Đống Đa, Hà Nội)
Trả lời:
Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin trả lời bạn hai vấn đề như sau:
Thứ nhất, thai nhi có được hưởng thừa kế hay không? Điều 635 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”. Bên cạnh đó, Điều 685 Bộ luật Dân sự 2005 cũng quy định: “Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng”. Như vậy, trường hợp của bạn thì người con thứ hai chưa được sinh ra sẽ được hưởng thừa kế nếu còn sống khi sinh ra.
Theo thông tin bạn đã nêu thì chồng bạn chết không để lại di chúc, phần di sản mà con bạn được hưởng sẽ bằng phần của người thừa kế cùng hàng. Trong trường hợp sinh đôi, sinh ba mà những người sinh ra còn sống, tùy trường hợp di sản thừa kế đã chia đó có thể đem ra chia lại để đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế. Trong trường hợp cụ thể của bạn, hàng thừa kế thứ nhất của chồng bạn gồm: bố chồng, mẹ chồng (nếu còn sống), bạn, con bạn, hai con riêng của chồng bạn và vợ cũ của chồng bạn (nếu còn sống).
Tuy nhiên, do chưa thành niên (chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ) nên phần di sản thừa kế cháu bé được hưởng sẽ do người giám hộ đương nhiên (là bạn) quản lý cho đến khi cháu bé thành niên. Khoản 1, Điều 58 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”.
Thứ hai, việc 2 người con riêng của chồng bạn tự ý chia di sản mà không chia cho người con trong bụng bạn là trái với quy định của pháp luật. Bạn có thể chờ đến khi con bạn được sinh ra và thực hiện việc khởi kiện phân chia di sản thừa kế. Theo Điều 645 Bộ luật dân sự 2005), thời hiệu khởi kiện về thừa kế: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình, hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Luật gia Nguyễn Đăng Thái
(Đoàn Luật sư TP Hà Nội)