Tiêu chí và phân loại đô thị ở Việt Nam
Theo các nhà quy hoạch và nghiên cứu đô thị, đô thị là nơi tập trung đông dân cư và ở đó công nghiệp hoá phát triển song song với đô thị.
Quy mô đô thị phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Chính phủ đã có văn bản quy định thông qua tiêu chí và phân loại đô thị cho từng thời kỳ.
I. Tiêu chí đô thị Việt Nam sau 1975
Theo Quyết định số 132 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ký ngày 5/5/1990 và Nghị định số 72/2001/NĐ - CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ ban hành quy định về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị có các tiêu chí chủ yếu sau:
![]() |
Từ bảng trên ta thấy rằng, tiêu chí phân loại đô thị Việt Nam trong những năm qua đã có những thay đổi. Các tiêu chí xác định đô thị của Việt Nam năm 2001 so với quyết định ban hành năm 1990 đã có những khác biệt về tỷ lệ lao động phi công nông nghiệp trong tổng số lao động tăng từ 60% lên 65%; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư năm 1990 chưa được đề cập cụ thể, đến năm 2001 quy định tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy định đối với từng loại đô thị. Năm 1990 dân số thành thị nước ta chiếm 19,0% trong tổng dân số. Thời kỳ giữa hai cuộc tổng điều tra dân số (1989 - 1999), quy mô dân số thành thị của Việt Nam đã tăng lên với tỷ lệ bình quân hàng năm là 3,36% với số tăng tuyệt đối 0,5 triệu người mỗi năm. Trong khi đó ở khu vực nông thôn tỷ lệ tăng dân số là 1,18%. Trong thời gian này, dân số cả nước đã tăng lên gần 12 triệu người trong đó khoảng 5,5 triệu người tăng lên ở khu vực thành thị và 6,5 triệu người tăng lên ở khu vực nông thôn1. Nếu so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á, mức độ đô thị hoá của Việt Nam thấp hơn nhiều (Malaixia 56%, Thái Lan 34%, Myanma 27%...). Một số nước trên thế giới có tỷ lệ dân cư đô thị cao là Anh (91%), Ôxtrâylia (89%), Thuỵ Sĩ (87%), và Nhật Bản (78%).
II. Phân loại đô thị Việt Nam.
Nghị định số 72/2001/NĐ - CP của Chính phủ quy định phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, trong đó nêu rõ đô thị được chia thành 6 loại: Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V.
Đô thị loại đặc biệt: Đô thị loại đặc biệt phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên.
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh.
4. Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên.
5. Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km2 trở lên.
Hiện tại Việt Nam chưa có thành phố lớn nào đạt tiêu chuẩn được xếp vào loại đô thị đặc biệt.
Đô thị loại 1: Đô thị loại I phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động (từ 85% trở lên);
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số phải đạt 50.000 đến dưới một triệu dân;
5. Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên.
Trước giải phóng, Việt Nam chỉ có thủ đô Hà Nội được xếp vào loại đô thị loại 1 và sau giải phóng miền Nam 1975 có thêm thành phố Hồ Chí Minh. Đến cuối 2003, hai thành phố Đà Nắng và Hải Phòng đã được Chính phủ công nhận là đô thị loại 1. Như vậy, tính đến năm 2003, Việt Nam đã có 4 đô thị loại 1 trực thuộc trung ương đó là: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng.
Thành phố Hồ Chí Minh có quy mô dân số thành thị năm 1979 là 2,7 triệu, cao nhất và cao gấp 3 lần so với thủ đô Hà Nội. Tổng điều tra dân số năm 1999, dân số đô thị của thành phố HCM là 4,2 triệu người, tăng gấp 1,5 lần so với năm 1979. Tỷ lệ tăng dân số thành thị bình quân năm của Hà Nội trong thời kỳ 1979 - 1999 là 8,6%, của TP. Hồ Chí Minh là 7,8%.
Đô thị loại II. Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, gia lưu trong vùng liên tỉnh, hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên;
5. Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km2 trở lên.
Theo quyết định số 132 -HĐBT (nay là Chính phủ) ký ngày 5/5/1990. Đô thị loại II của Việt Nam trong những năm 1990 gồm có 3 thành phố: Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ. Dựa trên tiêu chí của Chính phủ quy định về phân cấp đô thị của Việt Nam, trong Cuối sách "Dân số học đô thị" được xuất bản năm 2001, đã đưa ra danh sách các thành phố thuộc loại này ở Việt Nam, gồm 10 thành phố: Hải Phòng, Đà Nẵng, Vinh, Huế, Biên Hoà, Cần Thơ, Nam Định, Nha Trang, Quy Nhơn, Vũng Tàu. Nhưng Đà Nẵng và Hải Phòng đã được nâng lên thành đô thị loại 1 nên chỉ còn 8 thành phố nêu trên là đô thị loại 2. Quy mô dân số thành phố loại này là trung bình từ 36 vạn tới 1 triệu người, chiếm 15% dân số đô thị Việt Nam.
Đô thị loại III. Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị kinh tế, văn hoá khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số từ 10 vạn người trở lên;
5. Mật độ dân số bình quân từ 8.000 người/km2 trở lên.
Theo sự phân loại trên, đô thị loại III là đô thị do cấp tỉnh quản lý, gồm 12 thành phố: Thái Nguyên, Hạ Long, Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên, Buôn Mê Thuột, Cà Mau, Hải Dương, Thanh Hoá, Việt Trì, Yên Bái, Pleiku. Các thành phố trên chiếm 10% dân cư đô thị cả nước.
Đô thị loại IV: Đô thị loại IV phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số từ 5 vạn người trở lên;
5. Mật độ dân số bình quân từ 6.000 người/km2 trở lên.
Đô thị loại IV của Việt Nam thực chất là các đô thị hành chính. Trong những năm 1990 ở Việt Nam có tổng cộng 48 đô thị loại IV như: Cẩm Phả, Vĩnh Long, Cà Mau, Hoà Bình, Lai Châu, Hà Giang....
Theo một số nhà nghiên cứu khoa học về đô thị, đô thị loại IV của Việt Nam là các thị xã, trung tâm của tỉnh, trực thuộc tỉnh, hiện nay ở Việt Nam có 61 đô thị thuộc loại này nằm ở một số vùng như Đồng Bằng sông Hồng (11 đơn vị), Đồng bằng sông Cửu Long (13 đơn vị), Duyên hải Trung Bộ (14 đơn vị), các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ (16 đơn vị), Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (7 đơn vị). Các đô thị loại IV là trung tâm hành chính, kinh tế của một tỉnh và là đô thị hạt nhân có sức hút kinh tế và có ảnh hưởng lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh. Hạ tầng cơ sở, của đô thị loại IV chưa đầy đủ, còn nghèo nàn, lạc hậu sơ với đô thị cấp I, II, III. Dân số đô thị loại IV của Việt Nam chiếm 30% tổng dân số đô thị cả nước.
Đô thị loại V. Đô thị loại V phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyển ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên.
5. Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người /km2 trở lên.
Nâng cao vị thế trẻ em gái qua Hội thi 'Là con gái để tỏa sáng'
Dân số và phát triển - 6 giờ trướcGĐXH - Hội thi "Là con gái để tỏa sáng" là sân chơi bổ ích giúp học sinh nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên, bình đẳng giới và kỹ năng sống. Chương trình góp phần nâng cao vị thế trẻ em gái, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ.
Đau bụng khi đi du lịch, người phụ nữ 28 tuổi sốc mất máu vì thai ngoài tử cung vỡ
Dân số và phát triển - 15 giờ trướcGĐXH - Đang trong chuyến du lịch tại Quảng Ninh, người phụ nữ 28 tuổi bất ngờ đau bụng dữ dội, ngất xỉu. Các bác sĩ xác định nguyên nhân là thai ngoài tử cung vỡ gây xuất huyết ổ bụng ồ ạt.
Nôn nóng có con, nhiều cặp vợ chồng vô tình giảm cơ hội thụ thai vì thói quen này
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Tin rằng quan hệ đúng ngày rụng trứng sẽ giúp sớm có con, tuy nhiên, sau nhiều tháng rồi nhiều năm kiên trì, kết quả vẫn không như mong đợi.
Mãn kinh 5 năm, người phụ nữ 41 tuổi sinh con nhờ trứng hiến tặng sau hành trình 12 năm tìm con
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Nhờ thụ tinh trong ống nghiệm với trứng hiến tặng cùng quá trình theo dõi thai kỳ chặt chẽ, chị đã sinh con gái khỏe mạnh sau 12 năm chờ đợi.
Khám vì bí tiểu, người đàn ông 63 tuổi bất ngờ phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, khối u phình to gấp 5 lần
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Nhập viện cấp cứu do bí tiểu, ông Tiến (63 tuổi) bất ngờ được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển. Khối u khiến tuyến tiền liệt phình to gấp 5 lần bình thường và chỉ số PSA tăng cao gấp 40 lần ngưỡng cho phép.
Sương mù não ở phụ nữ mãn kinh dễ bị bỏ qua
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcMãn kinh là bước ngoặt lớn với nhiều thay đổi thể chất ở phụ nữ nhưng một khía cạnh đáng lo ngại thường bị bỏ qua là tình trạng sương mù não gây suy giảm trí nhớ và mất tập trung nghiêm trọng.
Vòng tránh thai có an toàn không? Các tác dụng phụ và biến chứng hiếm gặp
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcVòng tránh thai là phương pháp ngừa thai có hiệu quả bảo vệ từ 95% đến 97%. Tuy nhiên, liệu biện pháp này có thực sự an toàn tuyệt đối cho sức khỏe sinh sản của phụ nữ?
Từ ca bệnh cụ bà U80 đến người mẹ trẻ gen Z, chuyên gia cảnh báo: Ung thư cổ tử cung không loại trừ ai!
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcVừa qua, Khoa Phụ Sản - Bệnh viện 354 đã tiếp nhận điều trị cho hai ca bệnh ung thư cổ tử cung rất đặc biệt. Chuyên gia Sản khoa cảnh báo: Dù ở tuổi thanh xuân hay đã mãn kinh hàng chục năm, ‘sát thủ thầm lặng’ này thực sự không loại trừ một ai.
Tiểu gắt, bí tiểu kéo dài, người phụ nữ 53 tuổi phát hiện nguyên nhân ít ai ngờ tới
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcGĐXH - Tiểu gắt suốt và bí tiểu suốt 1 tuần, nguyên nhân không phải do bệnh lý đường tiết niệu thông thường mà xuất phát từ một khối nang lớn ở vùng chậu chèn ép bàng quang.
Thiếu nữ 16 tuổi mang khối u buồng trứng gần 15kg: Bác sĩ khuyến cáo không chủ quan với dấu hiệu bất thường
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Một thiếu nữ 16 tuổi ở Lào Cai mang trong người hai khối u buồng trứng khổng lồ với tổng trọng lượng gần 15kg, tương đương gần 1/3 trọng lượng cơ thể.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.
