Hà Nội
23°C / 22-25°C

Tìm hiểu một số tập quán chăm sóc SKSS của người Dao ở Yên Bái

Thứ ba, 15:49 29/11/2011 | Dân số và phát triển

Nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản (SKSS) đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Chăm sóc SKSS ở vùng sâu, vùng xa lại càng được xem là vấn đề nan giải, cấp bách đối với việc thực hiện những mục tiêu chiến lược của nhà nước thông qua các chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình. Bên cạnh những dân tộc thiểu số khác ở Yên Bái thì người Dao tại khu vực này cũng còn nhiều hạn chế trong việc chăm sóc SKSS do địa hình đi lại khó khăn, do tập quán sinh sống và tín ngưỡng, văn hoá từ lâu đời. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới sự ảnh hưởng của phong tục tập quán đến tình hình chăm sóc SKSS  của đồng bào dân tộc Dao, Yên Bái nói chung và người Dao ở xã An Bình nói riêng trên cả hai bình diện tích cực và hạn chế làm cơ sở cho công tác truyền thông chăm sóc SKSS, phát huy, bảo tồn những kinh nghiệm cũng như vốn kiến thức bản địa có tác dụng tích cực, đồng thời vận động người dân bài trừ những tập tục lạc hậu ảnh hưởng xấu tới công tác chăm sóc sức khoẻ nói chung và SKSS nói riêng.


Người Dao ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương (trên ruộng bậc thang) và chăn nuôi. Ngoài lúa họ còn trồng màu, nông cụ sản xuất thô sơ nhưng kỹ thuật canh tác đã có nhiều tiến bộ chấm dứt du canh du cư. Tri thức dân gian của người Dao rất phong phú đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền với việc sử dụng những bài thuốc nam vào phòng và chữa bệnh cho bà mẹ, trẻ em. Người Dao không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá (Nôm Dao) trong giao tiếp hàng ngày.     
      
Xã An Bình huyện Văn Yên - Yên Bái có tổng số dân là 4.178 người (2003) phân bố trong 7 thôn gồm  2 dân tộc là Kinh và Dao, trong  đó người Dao tập trung chủ yếu tại hai thôn 4 và 5 với dân số 1.196 người (230 hộ) chiếm tỷ lệ 28,6% dân số của xã. Người Dao ở đây gồm ba nhóm: Dao trắng, Dao đỏ và Dao đen, (người dân địa phương thường gọi chung là người  Mán). So với hai nhóm Dao đỏ và trắng thì người Dao đen cư trú sâu hơn, điều kiện đi lại khó khăn hơn, do vậy kinh tế và dân trí kém phát triển hơn. Trạm y tế xã được đặt tại thôn 1 cách khá xa các thôn còn lại, đặc biệt là các thôn của người Dao, do vậy rất khó khăn đối với công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cho người dân. Bên cạnh đó, một số phong tục tập quán còn đè nặng tư tưởng của người dân nơi đây.

Tập quán trong hôn nhân

Từ xưa tục cưới xin của người Dao gồm nhiều nghi lễ phức tạp từ bước tìm hiểu,  lễ hỏi rồi lễ cưới mang một nét đẹp văn hoá truyền thống đặc trưng riêng. Tuy nhiên các cuộc hôn nhân đó diễn ra với những cô dâu và chú rể còn quá trẻ chưa đủ trưởng thành cả về sinh lý và tâm lý nên cuộc hôn nhân sau đó thường gặp những trắc trở trong đời sống gia đình. Khi tuổi kết hôn sớm khoảng 13-17 dẫn đến tuổi có con lần đầu cũng sớm, lúc này cơ thể chưa phát triển hoàn thiện do đó ảnh hưởng đến sức khoẻ của người mẹ và đứa con, bên cạnh đó cả hai vợ chồng còn quá trẻ để quản lý gia đình nên mọi thứ vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào bố mẹ, ông bà. Mặt khác, kết hôn sớm còn làm cho số năm sinh đẻ của người phụ nữ dài hơn nhiều so với những người kết hôn muộn, gây khó khăn cho công tác KHHGĐ. Hầu hết trai gái người Dao đều được bố mẹ hai bên hỏi cho, hay nếu có biết thì cũng chỉ qua giới thiệu do đó không có thời gian tìm hiểu nhau nên khi về chung sống không thể tránh khỏi những khó khăn trong cuộc sống vợ chồng. Nghiên cứu từ dự án VIE/97/P03 của UNFPA năm 1999 tại Yên Bái cũng cho thấy tỷ lệ phụ nữ người Dao kết hôn trước tuổi 18 chiếm 32,7% còn tỷ lệ này ở người H’Mông lên tới 61,5%. Rõ ràng tình trạng kết hôn sớm  ở những dân tộc tiểu số còn là vấn đề nan giải trong công tác vận động DSKHHGĐ. Một vấn đề hiện nay như là một yếu tố tác động đến khả năng kết hôn sớm đó là quan hệ tình dục trước hôn nhân và có thai ngoài ý muốn, đặc biệt là khi việc cung cấp các phương tiện tránh thai còn hạn chế và khi nhận thức của dân cư trong cộng đồng đối với vấn đề này còn thiếu.
Hiện tại, việc kết hôn sớm (tảo hôn) ở người Dao xã An Bình không còn là phổ biến nhưng vẫn tồn tại.
Tập quán trong chăm sóc thai nghén

Việc chăm sóc thai nghén bên cạnh việc đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ còn có ý nghĩa rất lớn cho thai nhi và trẻ sơ sinh sau này. Trong những năm gần đây, ở Yên Bái công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em đã phát triển khá tốt đặc biệt ở vùng đồng bào người Dao, nhờ chương trình chăm sóc SKSS. Tuy vậy vẫn tồn tại một số phong tục tập quán và các yếu tố tâm lý ảnh hưởng không tốt tới việc chăm sóc thai nghén. Những tập quán này đã thấm sâu vào tiềm thức người dân từ lâu đời nay mà không dễ gì loại bỏ trong một sớm một chiều. Xưa kia, vì những nguyên nhân kinh tế - xã hội phức tạp mà người Dao thường  gặp nạn hữu sinh vô dưỡng dẫn đến hiện tượng hiếm hoi con cái, từ đó kết hợp với quan niệm vạn vật hữu linh (họ cho rằng sự vật hiện tượng xung quanh có thể tác động có lợi hay có hại cho con người nhất là với những hồn vía và thân thể còn yếu đuối là phụ nữ và trẻ sơ sinh), cho nên người Dao có nhiều nghi lễ tập tục liên quan đến chăm sóc bảo vệ bà mẹ, lúc mang thai. Đối với người phụ nữ khi biết mình có thai họ phải tuân theo những kiêng kị với tính chất hoàn toàn tự giác, gần như một hoạt động bản năng nếu không phải chịu hậu quả đáng tiếc trong lúc sinh nở, bị xã hội chê cười. Một số kiêng kị như không "ăn nằm" với chồng trong lúc mang thai sợ tổn thương đến thai trong bụng, không khâu vá thêu thùa trong nhà vì có thể là nguyên nhân đẻ nhiều con gái, hay trong kỳ mang thai mỗi khi ra ngoài trời dù râm mát, đều phải đội nón nếu không Ngọc Hoàng nhìn thấy "người bẩn" sẽ trị tội làm cho sảy thai, kiêng đụng vào hạt giống vì lo hạt không mọc được. Do vậy, hiện nay mặc dù người Dao đã được tiếp cận với kiến thức khoa học kỹ thuật về sinh đẻ, nhưng nhiều khi họ vẫn còn phải tuân theo những tục lệ của dân tộc mình và nhiều tục lệ vẫn tồn tại dai dẳng.

Ngày nay, nhằm theo dõi và phát hiện kịp thời các nguy cơ có thể xảy ra với thai nhi do bệnh tật của người mẹ có từ trước hoặc mới phát hiện khi mang thai thì sản phụ cần phải đi khám thai để nếu phát hiện sớm các nguy cơ đó cần có ngay kế hoạch chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và thai nhi. Cũng qua khám thai mà các nhân viên y tế có điều kiện hướng dẫn được những điều cần thiết, về vệ sinh thai nghén cho thai phụ và chọn nơi đẻ an toàn. Ở nước ta, do điều kiện  kinh tế văn hoá xã hội nên Bộ Y tế chỉ đưa ra yêu cầu tối thiểu khám định kỳ 3 lần cho mỗi bà mẹ vào 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Qua khảo sát thực tế tại cộng đồng người Dao xã An Bình tỉnh Yên Bái 2002, cho thấy có 81 người mang thai chỉ có 85 số lần khám thai. Như vậy trung bình mỗi người chỉ được khám một lần, đến quý 3 năm 2003 thì có thay đổi hơn với 90 lần khám thai trên 76 người mang thai. Theo Trạm trưởng trạm y tế xã chúng tôi được biết rất ít người đến khám lần thứ hai. Đối với người Dao, đặc biệt là nhóm Dao đen ở khu vực khá sâu của xã (thôn 4) thì số đến khám thai lại càng hạn chế và do không khám thai hoặc ít được khám thai nên số phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván đủ liều, được uống viên sắt cũng rất hạn chế.

Vấn đề dinh dưỡng cho thai phụ trong thời gian mang thai cũng rất quan trọng, nó không những ảnh hưởng đến sự phát triển của thai mà còn ảnh hưởng đến sự tạo sữa ban đầu của người mẹ sau khi đẻ. Nhưng thực tế thì điều kiện kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số khá khó khăn, sống ở những vùng nghèo đói, nguồn thu nhập gắn với nương rẫy và rừng nên phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Do điều kiện kinh tế nên việc bổ sung dinh dưỡng thực sự không dễ dàng với người dân nơi đây.

Chị Lý Thị Líu, thôn 5 xã An Bình- Yên Bái cho biết: “Người Dao Đỏ kiêng ăn những con vật sống dưới nước do sợ trẻ bị sài và một số loại rau có gai như rau bí, còn với người Dao đen thì kiêng ăn tất cả các đồ nướng, rán kĩ do quan niệm màu đen của các loại thức ăn đó sẽ không tốt cho mẹ và con”.

Chị Triệu Thị Chài (thôn 4 - xã An Bình - Yên Bái) tâm sự, do điều kiện kinh tế quá khó khăn nên trong thời kỳ thai nghén rất nhiều bữa chị chỉ ăn cơm với muối rang; ăn thịt cá đối với chị là chuyện rất hiếm, có chăng chỉ là cá phơi khô với muối mặn chát. Khi thai phụ bị thiếu dinh dưỡng thì suy dinh dưỡng bào thai và trẻ sơ sinh là không tránh khỏi. Qua tìm hiểu tại xã An Bình, chúng tôi thấy số trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 21,4%, dưới 2 tuổi là 10%, riêng tại thôn 5 trong số 28 trẻ có tới 10 trẻ suy dinh dưỡng (2003). Chúng tôi cho rằng việc lao động nặng đến sát ngày sinh hoàn toàn là tập quán của người Dao chứ không phải như họ vẫn hay nói "Cái khó nó bó lấy cái khôn, không làm lấy gì mà ăn”. Họ né tránh vấn đề này theo hướng lạc quan: “lao động nhiều nên rất dễ đẻ có khi đang làm việc thấy có dấu hiệu chuyển dạ thì chỉ trong vòng 1 giờ sau là cháu bé đã chào đời”.  Vấn đề ở đây cần có sự phân tích cái được và cái mất trong việc thu xếp thời gian nghỉ ngơi một cách hợp lý trước khi sinh đẻ cho người dân.        
Tập quán sinh đẻ và nuôi dạy con cái

Tập quán sinh đẻ giữa các dân tộc thiểu số có vài nét khác nhau nhưng đa phần có ảnh hưởng đến sự sống sót, phát triển của trẻ và sức khoẻ của người mẹ, trong đó phải kể đến việc chọn nơi đẻ, người đỡ đẻ, chế độ nghỉ ngơi kiêng cữ sau đẻ. Phụ nữ Dao đều có tục đẻ ngồi, ngay trong buồng ngủ của mình (kiêng đẻ ở những nơi khác). Trước đây, trong lúc đẻ người phụ nữ tự đỡ lấy là chính, sợ sự có mặt của người lạ, vía người lạ sẽ làm hại họ. Gần đây, một số sản phụ đã tới trạm y tế để đẻ, những người đẻ ở nhà thường được sự giúp đỡ của mẹ đẻ hoặc mẹ chồng và chồng.

Hiện nay, đối với  hầu hết phụ nữ người Kinh đã đến trạm y tế hay những cơ sở y tế để sinh đẻ thì số phụ nữ người Dao tại đây đẻ ở nhà vẫn còn chiếm tỉ lệ cao. Tìm hiểu nguyên nhân hiện trạng này chúng tôi nhận thấy ngoài vấn đề tập quán như đã nêu ở trên thì hầu hết phụ nữ có tâm lý xấu hổ, ngại tiếp xúc với người lạ. Một số cho rằng đẻ ở nhà đỡ tốn kém không phải đi xa đường sá cách trở.

Sau khi đẻ, sản phụ phải ở trong nhà một tháng liền, gia đình có người đẻ trước cửa thường treo cành lá xanh hay một chùm cỏ tươi, hoa chuối làm dấu cấm kị người lạ vào nhà, cũng như các loại ma tà. Cũng theo tập quán trước đây sản phụ rất được quan tâm chăm sóc chu đáo sau sinh như ăn cháo gạo nếp với thịt gà và nghệ, xương lợn, trứng liên tục trong 10 ngày đồng thời uống và tắm gội bằng thuốc sắc lấy nước, nhằm phòng tránh một số bệnh và tăng sức khoẻ cùng khả năng đề kháng cho mẹ và con. Đối với trẻ sơ sinh thường được nuôi bằng sữa mẹ nhưng cũng chỉ được đến 6 tháng tuổi…

Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, do điều kiện kinh tế khó khăn, việc ăn uống của sản phụ cũng bị hạn chế, mặc dù họ đã có ý thức ăn nhiều hơn để có sữa cho con và kiêng cữ trong việc ăn uống. Người Dao ở Yên Bái thường kiêng ăn thịt lợn nái, trâu, bò, gà rừng, cá quả vì sợ độc. Không rõ những kiêng kị ấy có mang lại nhiều điều tốt lành không nhưng rõ ràng việc thiếu chất trong khẩu phần ăn của người mẹ vốn đã thiếu khi mang thai, nay lại thiếu cho sự tạo sữa là những bất lợi lớn. Mặc dù như chúng ta biết khoa học đã chứng minh cần phải cho trẻ bú sớm, ngay sau khi đẻ vì giúp cho dạ con của bà mẹ co nhanh tránh băng huyết sau đẻ, đồng thời kích thích cho bà mẹ có sữa, ít bị tức vú, tắc tia sữa và ít bị mất sữa về sau. Đứa trẻ được bú sớm sẽ hưởng thứ thức ăn có đầy đủ chất bổ, lại có kháng thể chống nhiễm trùng và thích hợp hệ tiêu hoá của trẻ khi mới sinh. Thực tế qua phỏng vấn chúng tôi  được biết thường thì nhanh cũng phải sau nửa ngày, thậm chí đến 1 - 2 ngày sau phụ nữ mới cho con bú vì họ cho rằng chưa có sữa. Thời gian đó họ cho con uống nước đường, mật ong thay thế.

Đối với người mẹ, bên cạnh việc ăn uống là sự nghỉ ngơi sau đẻ cũng rất cần thiết để bảo vệ sức khoẻ. Trong khi những lời khuyên của các cơ sở y tế cần miễn mọi lao động dù là công việc trong gia đình sau 3 tháng mới làm lại, thì hầu hết phụ nữ  Dao ở đây đã làm việc nhà ở thời sau đẻ một tuần, thậm chí có trường hợp người mẹ lên nương sau khi đẻ 3 ngày.

Theo quan niệm của đồng bào Dao, đứa trẻ mới sinh chưa có hồn. Sau khi đẻ được một tháng, gia đình tổ chức làm lễ cúng mụ, gọi hồn về cho đứa bé. Người Dao còn có tập tục sau khi đẻ được 3 ngày thì bà nội hay bà ngoại hoặc một bà già khoẻ mạnh bế cháu bé xuống sàn đi cạnh nhà khoảng 20 - 30m.

Một số kiến thức bản địa khác về chăm sóc SKSS ở người Dao Yên Bái

Người Dao là một trong những người dân tộc thiểu số ở nước ta, có truyền thống sử dụng các bài thuốc dân gian độc đáo. Mặc dù hiện nay đã có nhiều thay đổi trong lối sống, nhưng họ vẫn giữ được giá trị truyền thống này. Trong đó, phụ nữ Dao có vai trò rất quan trọng đối với việc chăm sóc sức khoẻ cũng như phòng và chữa bệnh. Tìm hiểu tri thức của phụ nữ Dao về lĩnh vực này giúp ta hiểu sâu hơn mối quan hệ kiến thức - văn hoá - xã hội của tộc người.

Trong dân gian thuốc được người Dao sử dụng dưới nhiều hình thức, dùng trong và dùng ngoài. Thuốc dùng trong dưới dạng nấu uống, ăn sống, hấp chín; thuốc dùng ngoài thường là xông, tắm, giã dập để bôi hay xoa bóp. Đặc biệt người Dao có rất nhiều kinh nghiệm  trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Phương thức truyền thuốc chủ yếu là truyền miệng hoặc thông qua ứng dụng thực tế. Những người phụ nữ đã từng mang thai có kinh nghiệm trong sinh đẻ thường truyền kinh nghiệm cho người mới sinh đẻ lần đầu, trong phạm vi gia đình và cộng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác, như việc thai phụ và sản phụ đều biết phải kiêng ăn các thứ lạnh, tanh...

Bằng nguồn dược liệu phong phú từ rừng, người Dao đã biết sử dụng để chữa trị được nhiều bệnh thông thường, chỉ khi gặp những bệnh nặng thì mới nhờ đến sự chữa trị của thầy lang. Họ có nhiều bài thuốc tắm phòng bệnh, bồi bổ cho sản phụ (thường kết hợp với thức ăn) và nhiều bài thuốc phòng chữa bệnh cho trẻ con (như phòng nhiễm trùng rốn, phòng lở ngứa, mụn nhọt, cam sài, sởi…). Thuốc nam thường được người Dao dùng dưới dạng làm thức ăn hoặc nước uống hàng ngày.

Vào mùa nóng, người ta thường nấu một số món ăn có tác dụng làm mát, hạ nhiệt như canh rau dền chua, ăn sống rau diếp cá, phòng chống được nhiều bệnh như đái rắt, mụn nhọt… Vào mùa lạnh, người dân ở đây thường cho thêm gừng, tỏi vào một số món ăn để làm ấm cơ thể và phòng chống các bệnh do lạnh. Ngoài các bài thuốc Nam chữa những bệnh thông thường, với một số bệnh nan y như đau đầu kéo dài nhiều ngày, ỉa chảy nặng, đau mắt có mủ, rắn cắn, yếu thận, viêm xoang, trĩ, kiết lỵ, cũng có thể chữa được. Bên cạnh đó, mặc dù người Dao có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc sức khoẻ phụ nữ nhưng với một số bệnh họ phải nhờ đến các thầy lang, chẳng hạn như điều hoà kinh nguyệt, khí hư, thai phụ đau bụng ra nhiều huyết, hậu sản, khó đẻ… thậm chí là vô sinh, hạn chế sinh đẻ (tránh có con trong quan hệ tiền hôn nhân phổ biến ở người Dao).

Theo một nghiên cứu, thì tỷ lệ thuốc chữa bệnh phụ nữ chiếm  55,2% và thuốc chữa bệnh trẻ em chiếm 32,9% trong tổng số các bài thuốc của người Dao.

Hầu  như người Dao ở xã An Bình luôn có ý thức giữ gìn những bí quyết trong các bài thuốc dân gian của họ, trong các nhóm Dao đỏ, Dao trắng và Dao đen mỗi nhóm Dao lại có các họ khác nhau như họ Bàn, Hoàng, Vi, Triệu…. Mỗi họ thường có một bài thuốc riêng để nấu nước tắm cho sản phụ sau đẻ và trẻ sơ sinh. Các bài thuốc này thường được giữ bí mật. Cũng có người chuyên hái thuốc trong các nhóm Dao nhưng hầu như những người này thường không bán thuốc mà nếu có ai cần đến họ thì họ tìm thuốc cho nhưng không lấy tiền mà lấy lễ vật (trả sau khi bệnh đã khỏi hoặc bớt) thường là lợn, gà, rượu và nếp.

Những tập quán của người Dao trên đây giúp ta có cơ sở để nhận diện về tính phức tạp trong công tác chăm sóc SKSS ở vùng sâu, vùng xa nơi điều kiện kinh tế khó khăn và có đông người dân tộc thiểu số sinh sống. Những tập quán và tâm lí của cộng đồng người Dao nói chung và tại xã An Bình nói riêng trong chăm sóc SKSS phần nhiều đem lại bất lợi cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, tuy nhiên việc xoá bỏ không phải dễ dàng và trong thời gian ngắn mà cần có phương pháp tuyên truyền giáo dục phù hợp  với tâm lý và hoàn cảnh sống của người dân. Đặc biệt việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ và SKSS cho cộng đồng phải được coi là mục tiêu chính, khâu then chốt trong chính sách y tế ở địa phương với nội dung và phương pháp hợp lý. Bên cạnh đó, những tập quán dân gian đối với những kiến thức bản địa về phòng và chữa bệnh đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em cần được bảo tồn, lưu truyền và phát huy một cách có hiệu quả. Muốn vậy, cần có sự quan tâm của nhà nước trong việc tăng cường đầu tư chính sách với việc xoá đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho phụ nữ, trẻ em nhằm nâng cao chất lượngdân số, đẩy mạnh hơn nữa công tác điều tra thu thập thông tin, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến CSSKSS ở vùng miền núi và dân tộc. Ngoài ra, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc thù và liên ngành về miền núi với các vấn đề văn hoá kinh tế xã hội trong chiến lược phát triển bền vững ở khu vực này.
Theo Nguyễn Hữu Nhân, Phạm Anh Tuấn 
(Tạp chí DS&PT, số 8/2004 Website Tổng cục DS-KHHGĐ)
thuhuyen
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 20 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top