Hà Nội
23°C / 22-25°C

Tìm hiểu về tỷ số giới tính lúc sinh của Ấn Độ

Thứ ba, 11:25 13/12/2011 | Dân số và phát triển

Ấn Độ có nét chung với Nam Á và Trung Quốc về tỷ số giới tính, với sự thiếu hụt phụ nữ trong nhiều thế kỷ.

Mở đầu

Ấn Độ có nét chung với Nam Á và Trung Quốc về tỷ số giới tính, với sự thiếu hụt phụ nữ trong nhiều thế kỷ. Điều này phần lớn được cho là do vị thế thấp kém của phụ nữ trong xã hội Ấn Độ đã góp phần làm cho họ bị coi thường. Mặc dù Tổng điều tra dân số gần đây của Ấn Độ cho thấy tỷ số giới tính đã tăng thêm được 6 nữ trên 100 nam, nhiều hơn tỷ số 927 nữ/1000 nam trong lần tổng điều tra trước đó, nhưng sự giảm về tỷ số giới tính trong nhóm dân số 0-6 tuổi vẫn tiếp tục gia tăng. Tỷ số giới tính lúc sinh là một trong những điều kiện ban đầu quyết định đến tỷ số giới tính chung của dân số. Một nước như Ấn Độ đang trải qua thời kỳ quá độ dân số, tỷ số giới tính lúc sinh kết hợp với việc bỏ sót trẻ em gái khi sinh, hoặc tỷ lệ tử vong của nữ cao, đã có tác động lớn đến tỷ số chung về giới tính. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu giới tính cho các nhóm tuổi khác nhau đã trở thành rất cần thiết, nhằm giúp hiểu rõ hơn xu hướng khác nhau trong tương lai.

Xem xét tư liệu

Tỷ số giới tính lúc sinh là tỷ lệ giữa trẻ em trai và gái khi sinh. Xem xét đăng ký sinh tại nhiều nước khác nhau trên thế giới cho thấy khi sinh số trẻ  trai nhiều hơn số trẻ gái, và tỷ số giới tính lúc sinh nằm trong khoảng 104-107 bé trai trên 100 bé gái đẻ ra sống. Trong dân số da đen thì tỷ số này lại hơi thấp, khoảng 102-103 (Liên hợp quốc, 1982). Người ta cho rằng tỷ số giới tính sơ cấp (primary sex ratio)-(tỷ số giới tính khi thụ thai) còn cao hơn tỷ số giới tính thứ cấp (secondary sex ratio)-(tỷ số giới tính khi sinh).

Khi không có can thiệp chọn lọc giới tính, trẻ trai được sinh ra nhiều hơn trẻ gái với tỷ số 104-107 được coi là hiện tượng sinh học (Visaria, 1971). Trên thế giới, không có sự khác biệt theo vùng về tỷ số giới tính. Tỷ số giới tính sinh học luôn thiên về trẻ trai. Nghiên cứu thống kê về tỷ số giới tính lúc sinh được ghi chép tương đối đầy đủ tại 75 vùng lãnh thổ cho thấy tỷ số nam khi sinh thường biến thiên trong khoảng 104-107 (Visaria, 1968). Có một số ít nghiên cứu cũng đưa ra giả thuyết là tỷ số giới tính lúc sinh có liên quan đến nhóm máu. Khả năng có sự liên kết giữa máu người mẹ và giới tính của đứa con đã được xem xét qua các nghiên cứu tại các nơi khác nhau như Bombay, New York, London và Baltimore. Trong nghiên cứu các dữ kiện về mối liên quan giữa nhóm máu ABO với tỷ số giới của đứa trẻ, Cohen và Glass năm 1956 cho thấy: - tỷ số giới tính luôn thấp trong số con cái của các bà mẹ nhóm máu “A” và trong số tất cả các đứa trẻ thuộc về nhóm máu “A” bất kể các bà mẹ thuộc nhóm máu nào; và tỷ số giới tính luôn cao trong số các đứa trẻ của các bà mẹ nhóm máu “B” và trong số các đứa trẻ nhóm máu “B” của tất cả các bà mẹ (Bernice, H. Cohen và Bentley Glass, 1956). Các nghiên cứu khác cho thấy có nhiều yếu tố như chủng tộc, mùa và sự khác biệt về nhiệt độ, thói quen và phong tục của người dân cũng có ảnh hưởng tới tỷ số giới tính lúc sinh (William James, 1983).

Một số nghiên cứu trong lĩnh vực này nêu rằng thời gian và sự phơi nhiễm với hoóc-môn, hay các chất độc cũng như là các chất khác có thể góp phần quyết định đến giới tính của phôi thai. Tiếp cận với nghề nghiệp và môi trường cũng có ảnh hưởng đến tỉ số giới tính lúc sinh (Davis, 2000). Các nghiên cứu khác tiến hành ở phương Tây về vấn đề này cũng đã nêu giả thiết và thử nghiệm cho thấy tiếp cận với nghề nghiệp và điều kiện làm việc, mức độ bị stress của cha mẹ, cha mẹ lớn tuổi, tần suất giao hợp, thụ thai trong ống nghiệm, các u bạch hạch không phải bệnh Hodgkin, viêm gan và sử dụng các thuốc điều trị vô sinh như Clamiphene có ảnh hưởng tới giới tính của đứa con. Người ta cũng tin rằng tỷ số giới tính sơ cấp cân bằng với tỷ số giới tính thứ cấp, do tính chất dễ bị tổn thương về sinh học của thai trai với tỷ lệ tử vong cao hơn thai gái từ 3 - 3,7%. Các nghiên cứu trước đây nhằm tìm hiểu tỷ lệ sơ sinh trai và gái cho thấy có mối quan hệ với tuổi người mẹ, thời gian của hôn nhân, tuổi cha mẹ, thứ tự của đứa con, thai sinh đôi hai trứng (di-zigotic) và sảy thai tự nhiên (William, James, 1983). Về mối quan hệ giữa giới tính của đứa con và tình trạng sức khoẻ, các nghiên cứu cho thấy tỷ số giới tính của thai chết lưu giảm khi tỷ lệ thai chết lưu so với thai sống giảm đi. Tỷ số giới tính lúc sinh thiên về trẻ trai hơn nếu điều kiện sinh tối ưu, chăm sóc y tế được cải thiện và tỷ lệ thai chết lưu giảm đi. Tuy nhiên, điều này không lớn vì tỷ lệ thai chết lưu so với thai sống lại quá nhỏ, tức là khoảng dưới 50 thai chết lưu cho 1000 trường hợp đẻ ra sống. Cải thiện môi trường sức khoẻ, được phản ánh qua tuổi thọ bình quân, cho thấy tỷ số giới lúc sinh tăng một điểm phần trăm khi tuổi thọ bình quân tăng thêm 13 năm. Vì thai trai bị chết lưu nhiều hơn thai gái, nên việc giảm bớt thai chết lưu nói chung có lợi cho thai trai (Griffiths, Mathews , và Hinde, 2000). Ngoài ra, việc phá thai chọn lọc giới tính hầu như chắc chắn ảnh hưởng mạnh đến tỷ số giới lúc sinh “tự nhiên”. Yếu tố nhân khẩu học này cùng với việc đếm sót trẻ sinh nữ, hoặc tỷ lệ chết của nữ cao đã ảnh hưởng tiềm tàng đến tỷ số giới tính nói chung và nó có thể làm tăng tỷ số giới tính của đất nước nói chung.

MỤC TIÊU

Các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu

1. Xem xét mức độ, khuynh hướng và sự khác nhau về tỷ số giới tính lúc sinh ở Ấn Độ;

2. Xem xét các nhân tố nhân khẩu học, sinh học và kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến tỷ số giới tính lúc sinh ở Ấn Độ;

3. Nghiên cứu mỗi liên hệ qua lại giữa tỷ số giới tính lúc sinh và quá trình hình thành gia đình ở Ấn Độ

Dữ kiện
 

Bảng 1. Tỷ số giới tính lúc sinh theo các đặc trưng nhân khẩu họcĐặc trưngẤn ĐộPunjab Karnataka Uttar PradeshNFHS I II I II I II I IIThứ tự sinh1 108 109 107 106 107 108 110 1132 108 109 110 125 102 106 112 1113 106 109 112 124 102 102 107 1134 106 108 122 130 108 108 104 1145 106 106 115 126 107 103 109 105Tuổi bà mẹ khi sinh<25 108 109 110 117 105 106 108 11325 106 107 114 122 105 105 110 106Chênh lệch tuổi của vợ chồng<7 108 109 112 118 108 105 108 1107 105 107 108 120 103 104 110 110

Dữ kiện được lấy từ hai cuộc điều tra chọn mẫu đại diện cho quốc gia, điều tra quốc gia về Gia đình và Sức khoẻ (NFHS) I và II lần lượt được tiến hành vào các năm 1992-93 và 1998-99. Cả hai cuộc điều tra đều được thiết kế theo kiểu điều tra Nhân khẩu và Sức khoẻ (DHS) đã được triển khai tại nhiều nước đang phát triển trên thế giới vào thập kỷ 1980. Cả hai cuộc điều tra một mẫu hộ gia đình bao gồm tất cả các thành viên trong hộ được chọn và một mẫu các cá nhân bao gồm phụ nữ đã từng kết hôn ở độ tuổi 13-49 (trong NFHS I) và 15-49 tuổi (trong NFHS II). Cuộc điều tra NFHS-I gồm 89.771 phụ nữ 13-49 và NFHS-II bao gồm 90.303 phụ nữ 15-49 đã từng kết hôn. Tương ứng với hai mẫu này là bảng hỏi hộ gia đình và một bảng hỏi cá nhân. Bảng hỏi hộ gia đình do chủ  hộ hay người lớn trong hộ trả lời toàn hộ. Trong phiếu phỏng vấn cá nhân, mỗi phụ nữ đã từng có chồng trả lời về bản thân họ và các con. Cả hai cuộc điều tra này đã được thiết kế để có thể đưa ra các ước lượng cho từng bang và cho cả nước. Thông tin bao gồm các khía cạnh về sức khoẻ, xã hội, và nhân khẩu học, cuộc điều tra cung cấp các chi tiết về tiền sử sinh đẻ, kỹ thuật xác định giới tính của thai nhi, nạo phá thai và ưa thích con trai.

Phương pháp

Để nắm bắt được các xu hướng nhân khẩu học trái ngược nhau, và để hiểu biết sâu sắc vấn đề đang nổi lên, nghiên cứu đã được tiến hành ở cả cấp quốc gia và cấp bang, chọn lọc một số bang theo tỷ số giới tính lúc sinh. Trong nghiên cứu này, tỷ số giới tính lúc sinh được tính theo số trẻ trai trên 100 trẻ gái lúc sinh.

Phân tích và bàn luận

Khía cạnh kinh tế-xã hội

Phát hiện từ nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ số giới tính lúc sinh ở mức quốc gia qua hai cuộc điều tra liên tiếp đã tăng lên từ 107 (NFHS-I) lên 109 (NFHS-II). Ở các bang Assam, Rajasthan, Punjab, Haryna, và Uttar Pradesh đã có tỷ số giới tính thứ cấp cao hơn mức quốc gia. Còn về mối quan hệ giữa tỷ số giới tính lúc sinh với điều kiện kinh tế - xã hội, ở cấp quốc gia thì tỷ số giới tính cao (109) trong nhóm khá giả với 106 ở nhóm có mức sống thấp trong lần điều tra thứ nhất, và 111 so với 107 trong lần điều tra thứ hai. Tương tự như vậy, nơi ở có tác động tích cực tới tỷ số giới tính lúc sinh, như có nhiều con trai ở khu vực thành thị hơn. Nói chung, ở cấp quốc gia, nơi ở và mức sống có ảnh hưởng tới tỷ số giới tính lúc sinh, cho thấy sự sẵn có hệ thống đỡ đẻ an toàn và các cơ sở chăm sóc y tế đã làm tăng tỷ lệ con trai trong số trẻ sơ sinh. Theo cách này, giả dụ rằng phá thai chọn lọc giới tính thường hay xảy ra ở các gia đình có khuynh hướng ưa thích con trai cao hơn, cũng như nơi dễ tiếp cận với kỹ thuật xác định giới tính hiện đại, các bang Punjab, Karnataka và Uttar Pradesh có mức cao, thấp và trung bình về tỷ số giới tính lúc sinh trong hầu hết các điều kiện kinh tế -xã hội khác nhau.

Khía cạnh nhân khẩu học

Các yếu tố nhân khẩu học và sinh học khác nhau có ảnh hưởng đến tỷ số giới tính lúc sinh; các yếu tố quan trọng là thứ tự sinh, tuổi bà mẹ khi sinh, và tỷ lệ thai chết lưu so với trẻ sinh ra sống.

Thứ tự lần sinh

Ở dân số không có phá thai chọn lọc giới tính, tỷ số giới tính lúc sinh cho lần sinh thứ nhất tương đối cao hơn (Agnihotri, 2000), và giảm dần cho các lần sinh sau và sau đó lại tăng lên. Như thế, có mối tương quan hình chữ U giữa hai yếu tố. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, ở cấp độ quốc gia, tỷ số giới tính lúc sinh ở lần sinh đầu tiên cao hơn. Trong số các bang, bang Karnataka có mối quan hệ tự nhiên giữa tỷ số giới tính lúc sinh và thứ tự sinh. Đối lập lại là có sự tăng nhiều giữa lần sinh đầu và các lần sinh sau tại bang Punjab, ở đây tỷ số giới tính lúc sinh tăng từ 110 đến 125, 112 lên 124 và 122 đến 130 cho các lần sinh thứ 2, 3 và 4 qua điều tra NFHS-I và NFHS-II. Trong trường hợp của bang Uttar Pradesh, thay đổi giữa hai lần điều tra là 107 tăng lên 113, và 104 lên 114 cho các lần sinh 3 và 4, nhưng không có các kiểu rõ rệt trong các cuộc điều tra này về lần sinh (bảng 1).

 Trong số các bang này, Punjab có sự dao động lớn nhất. Đó có thể là do việc phá thai chọn lọc giới tính cao (Rutherford và Roy, 2004). Nếu thật sự có phá thai chọn lọc giới tính, người ta có thể nghĩ rằng điều đó ít xảy ra với lần sinh đầu, bởi vì hầu hết các cặp vợ chồng chỉ tính đến phá thai chọn lọc giới tính khi họ có gần đủ số con mong muốn, mà chưa đạt được số lượng con trai và con gái mong muốn, vì thế cho nên tỷ số giới tính lúc sinh tăng lên một cách đáng ngạc nhiên theo thứ tự lần sinh cao trong cả hai cuộc điều tra. Tuy nhiên, nên thận trọng khi suy diễn bất cứ điều gì trừ khi nghiên cứu hệ quả của các lần sinh sau, sự mong muốn có con và cấu thành giới của các gia đình, ít ra là phân tích ở cấp bang. Khi mà mức sinh giảm đi, tỷ lệ phần trăm các lần sinh sau cũng giảm đi, có thể cải thiện cơ may sống sót của các bé gái vì số đông những đứa trẻ được sinh ra đều là những đứa con mong muốn (Das, Gupta, 1987)

Tuổi của bà mẹ khi sinh và chênh lệch tuổi của vợ chồng

Tỷ số giới tính lúc sinh giảm theo tuổi mẹ, tuổi của cha và lần sinh; và nó có liên quan đến giảm tần suất giao hợp (William, James, 1983). Ở cấp độ quốc gia, với các phụ nữ sinh con khi tuổi còn trẻ, tỷ số giới tính lúc sinh cao và sau đó giảm xuống cho các nhóm tuổi lớn hơn. “Chênh lệch tuổi giữa vợ chồng” xem ra cũng có tác động đến tỷ số giới tính vì tỷ số này cao hơn khi tuổi vợ chồng không chênh nhau nhiều, nhưng các ước lượng cấp bang lại không ủng hộ giả thiết này.

Sức khoẻ bà mẹ

Quan điểm cho rằng tỷ số giới tính lúc sinh khác nhau là do sảy thai tự nhiên của thai trai và thai gái khác nhau được dựa trên hai lý lẽ:

- Sảy thai tự nhiên chủ yếu là thai trai

- Tỷ lệ sảy thai tự nhiên tăng lên ở những hoàn cảnh môi trường có hại (như tuổi mẹ tăng, tầng lớp xã hội thấp)

Phân tích về sức khoẻ liên quan đến tỷ số này trong cả hai cuộc điều tra cho thấy, những người không bao giờ bị sảy thai tự nhiên hay có thai chết lưu thì có nhiều con trai hơn. Còn về các bà mẹ đã từng có thai chết lưu hay sảy thai tự nhiên, hay cả hai, thì tỷ số sinh trai thấp hơn mức trung bình là 104, trong khi các bà mẹ không bị thai chết lưu hay sảy thai tự nhiên có tỷ số giới tính khi sinh cao hơn. Khuynh hướng này cũng tương tự với các điều kiện kinh tế-xã hội, như các bà mẹ có cuộc đẻ an toàn thường sinh ra các em bé khoẻ mạnh và có khả năng sống sót cao, dẫn đến tỷ số giới tính lúc sinh cao hơn. Phát hiện này cũng phù hợp  với giả thiết là tỷ số giới tính ở trẻ sơ sinh thiên về thai trai hơn một khi các điều kiện sinh nở được cải thiện, chăm sóc y tế tốt hơn và tỷ lệ thai chết lưu giảm đi (William, James, 1983; Griffiths và Cs. 2000)

Qui mô gia đình, ưa thích sinh sản, và hành vi thôi đẻ
 

Bảng 2: Tỷ số giới tính lúc sinhvà tỷ lệ con trai trong tổng số con theo mức sinh (NFHS-II)1 2 3 4 5 6 7 8 ChungQui mô gia đình hoàn tấtTSGTLS 1,43 1,58 1,35 1,15 1,03 0,97 0,99 0,98 1,15TLCT 0,59 0,61 0,57 0,54 0,51 0,49 0,50 0,49 0,54Qui mô gia đình chưa hoàn tấtTSGTLS 1,06 0,79 0,66 0,63 0,55 0,60 0,61 0,62 0,76TLCT 0,52 0,44 0,40 0,39 0,35 0,37 0,38 0,38 0,43Tất cả các cặp vợ chồng có conTSGTLS 1,15 1,31 1,22 1,09 0,98 0,95 0,97 0,96 1,09TLCT 0,53 0,57 0,55 0,52 0,50 0,49 0,49 0,49 0,52Ghi chú: TSGTLS = Tỷ số giới tính lúc sinh (số sinh trai so với số sinh gái)             TLCT      = Tỷ lệ con trai

Ý  định giãn cách giữa hai lần sinh hoặc thôi đẻ có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ số giới tính lúc sinh trong trường hợp người phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai. Nó cho thấy rằng quyết định đẻ thưa hay thôi đẻ là sau khi đã đạt được mong muốn về giới tính của đứa trẻ (rõ ràng là trẻ trai) vì vậy tỷ số giới tính là bình thường trong nhóm không sử dụng biện pháp tránh thai, và nó tăng vọt lên ở nhóm sử dụng tránh thai.
 Hiệu quả của hành vi thôi đẻ cần được đánh giá cùng với tác động của số con khi triệt sản đối với tỷ số giới tính lúc sinh. Kết quả cho thấy lần sinh mà sau đó phụ nữ đã triệt sản thường là thấp và đối với những lần sinh này, tỷ số giới tính đặc biệt cao. Điều này cho thấy chỉ sau khi có con trai, thì những phụ nữ có ít con mới đi triệt sản. ở đây, lý do về tỷ số giới tính lúc sinh cao đáng ngạc nhiên của bang Uttar Pradesh so với bang Punjab, với những phụ nữ chấp nhận triệt sản khi sinh dưới 3 lần có thể do biến đổi về mẫu, như ở bang Uttar Pradesh có 206 trẻ nam so với 36 trẻ gái được sinh ra, trong khi ở bang Punjab có 228 trẻ trai so với 57 trẻ gái. Xu thế chung cho các bang và quốc gia, bất kể trình độ phát triển kinh tế - xã hội của bang đó, học vấn không có tác động tích cực đến kiểu hình thôi đẻ, và điều này cũng đã được các nghiên cứu trước đây tiến hành đặc biệt tại bang Punjab xác nhận (Das, Gupta, 1982; Arnold và Cs, 1998).

Phân tích mối quan hệ qua lại của tỷ số giới tính lúc sinh, hành vi thôi đẻ và qui mô gia đình cho thấy tỷ số giới tính này tăng một khi qui mô gia đình giảm vì các cặp vợ chồng đã hoàn tất qui mô gia đình (không muốn có thêm con, hay chấp nhận triệt sản, hay không sinh thêm con đã 10 năm kể từ lần sinh cuối) (Bảng 2).

Tỷ số giới tính cũng như tỷ lệ con trai cao hơn trong bất cứ qui mô gia đình nào, trừ trường hợp sinh lần thứ 5. Với những người đã đạt qui mô gia đình mong muốn và mục tiêu về cơ cấu gia đình, tỷ lệ con trai cũng như tỷ số giới tính lúc sinh cao hơn, và cao nhất đối với các cặp vợ chồng có hai con, điều này đối lập với các cặp vợ chồng “muốn có thêm con”, có thể họ "muốn có thêm con" vì họ có ít con trai và để có thêm con trai thì họ phải sinh thêm nữa, và kết quả này cũng ủng hộ phát hiện rằng "một yếu tố góp phần làm cho qui mô gia đình ở Ấn Độ lớn là do mong muốn của các cặp vợ chồng muốn có con trai, bất kể tình trạng kinh tế-xã hội thế nào" (Nath và C. land, 1994)

Tại cấp bang, tất cả 3 bang đều cho thấy tỷ số giới tính lúc sinh rất cao cũng như tỷ lệ con trai cao (>0,55) trong các gia đình qui mô nhỏ dưới 3 con. Các cặp vợ chồng đã ngừng sinh có qui mô gia đình tương đối lớn cho thấy có cân bằng hơn về giới tính, có thể họ đã có thêm con gái. Trong 3 bang, tuy rằng bang Karnataka cho thấy hành vi ngừng sinh theo giới tính mong muốn của đứa con không mạnh, nhưng trong các gia đình qui mô nhỏ, quả thực là có sự thay đổi rõ về cơ cấu giới tính. Những phát hiện này cũng phù hợp với giả định là ‘khi mức sinh giảm, sự giảm số con mong muốn không đi đôi với giảm số con trai’ (Das, Gupta và Bhat, 1995).  Điều này có thể cho thấy sự ‘thay thế’ và ‘hiệu quả tăng cường’ trong quá trình giảm sinh (Bhatt và Zavier, 2003).

Như thế, trên đây chỉ ra rõ ràng là các cặp vợ chồng đã hoàn tất qui mô gia đình có tỷ số giới tính lúc sinh cao cùng với tỷ lệ con trai cao. Tuy nhiên, mức độ thay đổi theo từng bang mà Punjab có trị số cao nhất, còn bang Karnataka có trị số thấp nhất. Điều này cho thấy hành vi đẻ thưa và ngừng sinh theo giới tính mong muốn có ảnh hưởng đến tỷ số giới tính lúc sinh cả ở trong các xã hội có hay không việc chọc hút ối.

Phân tích đa biến

Kết quả từ phân tích đa biến cho thấy các đặc điểm kinh tế-xã hội và qui mô gia đình có ảnh hưởng mạnh đến việc ưa thích con trai. Tuy nhiên, các biến kinh tế-xã hội, trừ học vấn của phụ nữ, không ảnh hưởng tới vấn đề ưa thích con trai. Cả hai mô hình (mô hình I chung cho  tất cả các gia đình và mô hình II với các gia đình đã hoàn tất qui mô mong muốn) cho thấy cải thiện học vấn của phụ nữ sẽ làm giảm sự ưa thích con trai. Sự khác nhau thú vị giữa mô hình I và II là tuổi của phụ nữ ở mô hình II lại không phải yếu tố tiên đoán mạnh về ưa thích con trai, trong khi đó điều này lại xảy ra đối với mô hình I. Không ngạc nhiên khi các phụ nữ trẻ vẫn mong muốn đạt được tỷ lệ con trai. Ngoài ra, với tất cả các qui mô gia đình, tỷ lệ các cặp vợ chồng muốn có tỷ lệ con trai cao hơn trong tất cả các nhóm, chứng tỏ việc muốn có con trai đã ảnh hưởng tất cả các qui mô gia đình. Với một qui mô gia đình nhất định, cả hai mô hình cho thấy có tỷ lệ chênh (odds) cao hơn về ưa thích con trai, và số con tăng lên có thể làm cho tỷ lệ con trai trong gia đình giảm đi. Mong muốn mức sinh thấp và sự ưa thích con trai tồn tại lâu đời, kịch bản này sẽ còn tồn tại cho đến khi sự phát triển của phụ nữ được lồng ghép vào phát triển chung của đất nước. Một khía cạnh khác của nghiên cứu này cho thấy là phụ nữ thuộc bang có tỷ số giới tính lúc sinh cao, có tỷ lệ con trai cao hơn trong gia đình bất kể sự khác biệt về hành vi thôi đẻ.

Kết luận

Phát hiện cho thấy tỷ số giới tính lúc sinh không chỉ bị tác động bởi sự ưa thích con trai qua việc xác định giới của thai nhi trước khi sinh nhằm đạt được gia đình theo ý muốn và qui mô gia đình tiếp theo. Trì hoãn hay không sinh thêm con, đã đóng vai trò quan trọng quyết định đến giới tính của nhóm dân số nhỏ nhất (0-6 tuổi). Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế cùng với tiếp tục cải thiện kỹ thuật y tế và các cơ sở y tế, cũng như hiểu biết và thực hành tiên tiến về KHHGĐ kết hợp với các hình thái nuôi con có khả năng thay đổi cơ cấu giới tính của dân số cả cấp vi mô lẫn vĩ mô. Trong quá trình quá độ sinh sản, việc mong muốn qui mô gia đình nhỏ sẽ dẫn đến tăng việc ưa thích con trai, và làm cho người phụ nữ bị thiệt thòi hơn khi tăng tỷ lệ con trai. Tuy không tồn tại mãi, nhưng thực tế này sẽ còn kéo dài trong một thời gian nhất định.
 
Theo Lê Phương Mai
Tạp chí Dân số và Phát triển, trang Web Tổng cục DS-KHHGĐ
hoahue
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 17 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top