Băng "ninja" và những cuộc "săn người"
Giadinh.net - Cuối năm 2007, huyện Đồng Văn liên tiếp xuất hiện loại tội phạm bịt mặt như “ninja”, chuyên khống chế, bắt cóc các nạn nhân bằng vũ khí nguy hiểm.
Kỳ I: "Mẹ mìn" bán hàng rong
Mỗi vụ bắt cóc, bọn chúng chỉ thực hiện trong một thời gian rất ngắn, rồi rút ngay về bên kia biên giới.
“Cõng rắn cắn gà nhà”
Thiếu tá Nguyễn Quốc Tuấn, Phó đồn trưởng Trinh sát - Đồn Biên phòng Đồng Văn, vừa lật từng trang nhật ký ghi những ngày anh cùng các chiến sĩ trong đồn “nếm mật nằm gai” tìm manh mối phá án, vừa kể, ngày đó những số liệu báo cáo về những vụ bắt cóc, nạn nhân mất tích liên tục tăng, chỉ trong vòng hơn 2 tháng xảy ra 7 vụ, hàng chục người bị bắt cóc... đã đặt các anh vào tình thế như ngồi trên đống lửa. Thậm chí, lãnh đạo Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Giang đã phải trực tiếp xuống chỉ đạo đồn biên phòng Đồng Văn lập chuyên án, quyết tâm phá bằng được băng nhóm “ninja” nguy hiểm này. Nhiều ngày, các trinh sát giỏi phải nằm rừng ngủ bụi, cải trang thành người dân thay nhau đi chợ phiên, để nắm bắt thông tin về những kẻ bịt mặt bí hiểm.

Thiếu tá Nguyễn Quốc Tuấn
Khởi tố kẻ buôn bán người Trao đổi với phóng viên Báo GĐ&XH, Đại uý Huỳnh Văn Sáu, Phó chỉ huy trưởng, phụ trách trinh sát của Đồn biên phòng cửa khẩu Thanh Thuỷ cho biết, đối tượng Bàn Hữu Đào (nhân vật trong bài viết “Mẹ mìn bán hàng rong” trên số báo 36, ngày 25/3) đã khai nhận toàn bộ hành vi và đã bị khởi tố tội tổ chức đưa người trốn ra nước ngoài trái phép. Ngày 25/3, đối tượng Đào đã được trao lại cho phía Trung Quốc tiếp nhận và xử lý.
Đến cuối năm 2007, đúng ngày chợ phiên Sà Phìn (Đồng Văn), thông tin đầu tiên về đối tượng được xác lập, khi một phụ nữ bị bắt cóc hụt ở khu vực rừng phòng hộ, cao điểm 1911 thuộc địa bàn xã Lũng Táo, tình cờ nhận ra một trong số những tên làm cảnh giới cho bọn “ninja”, là người địa phương, đang đi lang thang ngoài chợ. Người phụ nữ này quá sợ hãi, không dám tố cáo hắn mà đem chuyện này về kể với người thân. Không lâu sau, từ nguồn tin trên, được quần chúng nhân dân tố giác, các trinh sát đã triển khai bám sát mục tiêu. Qua rà soát, sàng lọc các đối tượng trên địa bàn, tên Thò Mí Pó được đưa vào tầm ngắm.
Thiếu tá Nguyễn Quốc Tuấn kể tiếp: “Chúng tôi bí mật tổ chức cho 4 nạn nhân từng bị nhóm “ninja” bắt hụt, nhận dạng đối tượng Pó. Tất cả họ đều khẳng định, Pó là một trong số những tên tham gia bắt cóc họ. Pó được đưa về Đồn Biên phòng Đồng Văn để làm việc. Tại đây, Pó khai ra 2 đối tượng khác ở xã Mã Lé, huyện Đồng Văn, đã nhiều lần được 3 đối tượng là người nước ngoài thuê làm người cảnh giới cho các đối tượng này trực tiếp bắt cóc phụ nữ, trẻ em. Mỗi vụ thành công, bọn Pó được trả công từ 4 - 5 triệu đồng. Và để không bị phát hiện, các đối tượng nước ngoài này đã dùng khăn đen bịt mặt. Tiếp đó, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án và thực hiện lệnh bắt khẩn cấp Thò Mí Pó, Thò Súa Pó và Thò Mí Cáy để điều tra. Đồng thời phối hợp với lực lượng Biên phòng nước bạn cùng truy tìm đối tượng chính của vụ án”.
“Gậy ông đập lưng ông”
Có một điều trớ trêu đã xảy ra khi Thò Mí Pó trở về nhà, sau khi nhận tiền công làm cảnh giới cho bọn “ninja” để bắt cóc 4 phụ nữ vào ngày 23/11/2007, thì nghe người cùng bản nói: “Mẹ mày đi chặt củi trong rừng, bị bắt cóc bán đi rồi”. Pó giật mình lao đi tìm nhưng không kịp, đành chạy sang nhà Thò Súa Pó để “cầu cứu”. Nhưng không ngờ, hoàn cảnh của Súa Pó cũng bi đát chẳng kém gì, vợ của Súa Pó là Mua Thị Dính 30 tuổi, cũng đã bị bắt cóc. Mí Pó trách Súa Pó vì đã rủ hắn đi làm những việc phi pháp, để giờ phải trả giá... Súa Pó trừng mắt đe doạ Mí Pó: “Nếu mày hé răng nói với ai nửa lời về sự việc hôm nay, sẽ bị bọn người nước ngoài giết chết đấy”! Pó đành ngậm miệng, “nằm im” nghe ngóng.
Tại cơ quan điều tra, Mí Pó đã khai: “Tôi đã từng đi theo Súa Pó, giúp những người nước ngoài bắt cóc phụ nữ mang qua biên giới bán lấy tiền. Tiêu hết rồi, không kiếm được tiền mua cái ăn, Súa Pó lại đến rủ tôi đi làm nốt một vụ nữa rồi thôi... Tôi liền đồng ý đi theo ông ấy. Chúng tôi hẹn nhau đúng trưa 23/11/2007, sẽ gặp nhau tại ngã 3 đoạn đường mòn, mốc số 18, thuộc địa bàn xã Lũng Táo. Súa Pó dặn tôi phải mang theo dao quắm và không được nói với bất cứ ai về cuộc hẹn này. Nếu có người gặp thì nói dối là đi cắt cỏ cho bò....”.
Khoảng 12 giờ trưa ngày 23/11/2007, Mí Pó đến điểm hẹn thì thấy Súa Pó ngồi đợi sẵn. Súa Pó dẫn Mí Pó đi vào bìa khu rừng phòng hộ 1911 thì dừng lại. Súa Pó phân công nhiệm vụ cho Mí Pó: “Ngồi canh gác ở đây, nếu thấy ai đi qua thì huýt sáo 3 lần để báo hiệu”. Súa Pó đi sâu vào rừng, còn Mí Pó ngồi lại đó. Chừng 20 phút sau, Mí Pó thấy một thanh niên đi tới, bảo hắn đi trước dẫn đường cho bọn Vàng Mí Lùng; Hờ Mí Sính; Vàng Mí Say; Mua Mí Sò (đều là người nước ngoài). Bọn này phân công nhau lấy khăn đen bịt mặt và núp vào một chỗ, mỗi tên cách nhau 2 mét. Vừa lúc dó có 4 người phụ nữ đi qua, những tên bịt mặt ập đến khống chế bắt cóc họ, đưa họ qua biên giới. Cả Súa Pó và Mí Pó đều không ngờ hôm đó chúng đã canh gác cho đồng bọn bắt 4 người phụ nữ của gia đình mình.
Ngày 24/12/2007, mẹ của Mí Pó trốn thoát về, vừa gặp hắn, bà cụ hốt hoảng kể lại chuyện bà đã bị bắt cóc cùng với con gái và con dâu như thế nào. Tuy nhiên, khi sang bên đó bọn buôn người chê bà cụ già, không bán được giá, nên chúng cố tình để bà cụ trốn thoát. Sau một ngày đi bộ, bà về đến nhà kể cho Mí Pó về sự hung hãn, độc ác của bọn bắt cóc phụ nữ...
Thiếu tá Tuấn cho biết: “Tính riêng trong năm 2007, các đối tượng Lùng, Say, Sính, Sò (người nước ngoài), đã cùng với 3 đối tượng Mí Cáy, Mí Pó, Súa Pó gây ra 7 vụ, bắt cóc 12 phụ nữ; trong đó đã giải cứu được 8 chị em, còn lại 4 người vẫn “bặt vô âm tín”. Chúng tôi đã làm văn bản gửi cho lực lượng Biên phòng nước bạn đề nghị phối hợp phá những vụ án này”.
(Còn nữa)
Thông báo