Báo cáo tại Hội nghị chuyên đề về Nhu cầu đầu tư và phối hợp công-tư trong y tế
Giadinh.Net - Sáng nay, 26/5 Hội nghị chuyên đề về thu hút đầu tư và thúc đẩy hợp tác công-tư trong lĩnh vực y tế chính thức khai mạc tại khách sạn New World, TPHCM. Báo GĐ&XH xin đăng toàn văn báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị này.
BÁO CÁO TỔNG QUAN
VỀ NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP CÔNG TƯ
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ
Trong những năm qua, công tác Bảo vệ, chăm sóc & nghiên cứu sức khỏe nhân dân tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhờ một hệ thống y tế công lập được xây dựng rộng khắp từ Trung ương tới tỉnh, huyện, xã/phường và thôn, bản, ấp. Hệ thống y tế công lập hiện giữ vai trò chủ đạo trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và được chia làm 3 tuyến: tuyến Trung ương; tuyến tỉnh và tuyến y tế cơ sở (bao gồm huyện, xã và y tế thôn bản). Bên cạnh hệ thống y tế công, tại Việt Nam đã hình thành mạng lưới y tế tư nhân. Hiện nay có trên 30.000 phòng khám chữa bệnh tư nhân, 84 bệnh viện tư với trên 5.000 giường bệnh (tương đương 2% giường bệnh của cả nước), trong đó có 4 bệnh viện có vốn đầu tư của nước ngoài.
Hệ thống y tế của Việt Nam hiện nay bao gồm khoảng 13.438 cơ sở y tế, trong đó có 1.063 bệnh viện công với 200.000 giường bệnh. Bình quân có 1.664 giường bệnh quốc lập/10.000 dân; 1 bác sỹ phục vụ 1.700 dân; Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển; hầu hết các xã, phường trong cả nước đều có trạm y tế, khoảng 65% trạm có bác sỹ. Nhờ vậy, nhiều thành tựu y tế quan trọng đã đạt được: Thanh toán được bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2000 và bệnh phong vào năm 2005; Hạn chế được tốc độ gia tăng của HIV/AIDS; Giảm tỷ lệ chết của trẻ em dưới 5 tuổi từ 55%o năm 1995 xuống còn 32,8%o năm 2003; Giảm tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi từ 42%o xuống 18%o; Năm 2003, Việt Nam đã khống chế thành công dịch bệnh SARS; Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam từ 67,8 tuổi đã nâng lên 71,5 tuổi vào năm 2005. Tỷ lệ chi thường xuyên cho y tế 4,5% ngân sách; Tỷ lệ hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí là 29,28% và hộ nghèo được miễn giảm viện phí là 57,88% (2003). Nhiều cơ sở y tế trong đó có cả hệ dự phòng và khám chữa bệnh (KCB) được đầu tư, nâng cấp, một số cơ sở KCB đã ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao, tiên tiến như ghép gan, thận, tuỷ, thụ tinh trong ống nghiệm, phẫu thuật tim mạch, sọ não, tiêu hoá... Chế độ KCB cho người nghèo, KCB miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện.
Đối với ngành dược và hệ thống y dược cổ truyền, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc cung ứng đầy đủ các loại thuốc có chất lượng cho người dân. Hiện nay Việt Nam có 18 doanh nghiệp dược Trung ương; 132 doanh nghiệp dược địa phương; 22 dự án liên doanh sản xuất thuốc. Các cơ sở cung ứng thuốc thiết yếu đã có mặt tại các xã, phường, kể cả vùng sâu, vùng xa, với khoảng 10.317 quầy đại lý thuốc và 9.087 tủ thuốc của trạm y tế.
Công tác nghiên cứu kế thừa và phát huy các bài thuốc, phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền tiếp tục được đẩy mạnh. Các nguồn dược liệu địa phương được sử dụng rộng rãi để chữa trị một số bệnh thông thường và bệnh mãn tính. Hiện nay có 450 cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền với 2.000 chế phẩm đông nam dược. Hàng năm có khoảng 30% bệnh nhân được khám và điều trị bằng y học cổ truyền.
Theo đánh giá chung của Tổ chức Y tế thế giới về thành tựu y tế của Việt Nam, khả năng đáp ứng của hệ thống y tế Việt Nam xếp thứ 51/191 nước trên thế giới; được đánh giá cao hơn so với nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của Việt Nam tốt hơn so với các nước có cùng mức thu nhập. Một số chỉ số cơ bản của Việt Nam tương đương mức của các nước có thu nhập cao gấp 10 lần. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 72, cao hơn 10 tuổi so với các nước có thu nhập bình quân tương đương.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được trên đây, công tác y tế vẫn còn một số tồn tại sau:
- Mô hình bệnh tật ở nước ta được phân loại theo 3 nhóm (nhiễm trùng, không nhiễm trùng và tai nạn, thương tích). Nhóm bệnh không nhiễm trùng chiếm tỷ trọng mắc bệnh cao nhất là 60,61% ; nhóm bệnh nhiễm trùng vẫn còn phổ biến và chiếm tỷ trọng mắc bệnh trên 27,0% ; nhóm bệnh do tai nạn thương tích chiếm tỷ trọng mắc bệnh là 11,95. Tình trạng ngộ độc thực phẩm còn cao, hàng năm có từ 1,3 - 1,5 triệu người ngộ độc; tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm do sử dụng hóa chất; tình hình sức khỏe công nhân và bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động vẫn còn cao nên đòi hỏi việc cung cấp các dịch vụ y tế cả dự phòng và điều trị phải thuận lợi, đa dạng và hiệu quả đồng thời phải hết sức kịp thời.
- Hiện nay, trong khu vực Nhà nước, các cơ sở y tế tuy có được đầu tư song so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu. Đối với các cơ sở KCB công do chưa có quy định điều kiện cụ thể để cấp giấy phép hoạt động nên nhiều cơ sở KCB đã không đạt điều kiện, đặc biệt là cơ sở vật chất, xử lý chất thải y tế. Trong khi đó, các cơ sở KCB tư nhân muốn hoạt động được phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới được cấp phép. Do đó, cần thiết phải có cơ chế pháp lý về điều kiện cụ thể và cấp giấy phép hoạt động cho tất cả các cơ sở trên để bảo đảm cung cấp dịch vụ KCB cho người bệnh một cách hiệu quả, đồng đều.
- Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế năm 2006, ở nước ta, đến nay có 189.150 người đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong khu vực nhà nước (trong đó, 52.413 bác sỹ, 48.519 y sỹ, 961 điều dưỡng viên đại học, 45.143 điều dưỡng viên trung học, 10.899 điều dưỡng viên sơ học, 17.109 nữ hộ sinh đại học và trung học, 2.133 nữ hộ sinh sơ học, 10.519 kỹ thuật viên y tế, 798 xét nghiệm viên và 656 lương y), chưa kể người đang hành nghề trong khu vực tư nhân. Việc cấp chứng chỉ hành nghề được thực hiện từ năm 1995 đối với người đứng đầu các cơ sở hành nghề y tư nhân (việc cấp này thông qua việc xét hồ sơ thuần túy của đối tượng hành nghề). Đối với những người trực tiếp hành nghề KCB thuộc khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân đều chưa thực hiện nên chất lượng của đội ngũ này cũng chưa đồng đều do Việt Nam chưa có hệ thống đăng ký, kiểm tra, cấp chứng chỉ hành nghề và giám sát hoạt động cho người hành nghề.
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống y tế ở Việt Nam đã nhanh chóng phát triển, phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Tuy các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương đã được đầu tư nâng cấp về trang thiết bị, trình độ chuyên môn và tay nghề của cán bộ y tế được tiếp tục nâng cao, hệ thống cung ứng dịch vụ KCB vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân. Từ một hệ thống hoàn toàn thuộc sở hữu Nhà nước, hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh hiện nay đã trở thành một hệ thống cung ứng dịch vụ công tư hỗn hợp. Các chính sách hiện hành thể hiện sự quan tâm, khuyến khích của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của y tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay, nhưng câu hỏi y tế tư nhân nên phát triển tới mức nào, chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong hệ thống cung ứng dịch vụ KCB chung thì vẫn chưa có lời giải đáp.
Để trả lời được câu hỏi trên, cần xem xét khả năng thực tế và vai trò của y tế tư nhân đối với mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển của hệ thống y tế. Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để dùng công cụ quản lý nhà nước bằng pháp luật để nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, cũng như đưa hệ thống tư nhân tham gia cùng hệ thống Nhà nước trong cả phòng và điều trị bệnh tật. Nhu cầu với việc hợp tác công – tư (PPP) hiện nay đang được nhiều quốc gia quan tâm và khuyến khích (do hệ thống công không thể cung cấp toàn bộ các dịch vụ công cộng vì hạn chế nguồn lực). Trong lĩnh vực sức khoẻ, hợp tác công tư được tranh luận từ lâu và đã có nhiều mô hình, nhiều cách làm để bổ trợ lẫn nhau giữa hai hệ thống. Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng thế giới, một số tổ chức của Liên hiệp quốc, nhiều Chính phủ đều khuyến khích các quốc gia ủng hộ các mức độ và hình thức khác nhau của Hợp tác công – tư.
1. Nhu cầu đầu tư
a. Tiếp tục ưu tiên các nguồn vốn để đầu tư, nâng cấp các trạm y tế xã, đặc biệt là các xã chưa có trạm y tế hoặc có nhưng là nhà tạm, các xã mới chia tách; phấn đấu hết năm 2009, đạt 100% số xã có trạm y tế và trên 70% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã;
b. Triển khai thực hiện tốt, có hiệu quả việc đầu tư, nâng cấp các bệnh viện huyện, bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện từ nguồn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 02/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ;
c. Tập trung các nguồn vốn để đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho các bệnh viện đa khoa tỉnh, ưu tiên các bệnh viện đa khoa tỉnh miền núi, khó khăn, bệnh viện làm nhiệm vụ vùng như: Sơn La, Thái Nguyên, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Bình Định, Khánh Hoà, Đắc Lắc, Kiên Giang, Tiền Giang; các bệnh viện lao, tâm thần, ung bướu, nhi; tiếp tục đầu tư cho các trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế và Đà Nẵng theo quy hoạch phát triển ngành đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
d. Bước đầu triển khai xây dựng các trung tâm xét nghiệm, phòng thí nghiệm, trung tâm kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đủ năng lực và điều kiện hoạt động theo Quyết định số 154/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006-2015”.
e. Tăng cường đầu tư, nâng cấp, củng cố hoàn thiện hệ thống y tế dự phòng tuyến tỉnh, các trung tâm y tế dự phòng huyện thành lập theo Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của liên tịch Bộ Y tế - Bộ Nội vụ.
Nhu cầu đầu tư trong trong lĩnh vực bệnh viện hiện nay chưa có con số ước đoán chính xác. Tuy vậy, qua con số của Đề án 930/QĐ-TTg tính toán cho 225 bệnh viện tuyến tỉnh (gồm 81 bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố và trung ương, bệnh viện tâm thần, lao, ung bướu chuyên khoa nhi) thì nhu cầu đầu tư ước chừng trên 45.000 ngàn tỷ đồng (tương đương 2,2 tỷ đô la Mỹ), trong đó chưa tính các bệnh viện chuyên khoa khác như Tai Mũi Họng, Mắt, Răng Hàm Mặt. Hiện nay số giường bệnh viện của Việt Nam trên 10.000 dân là 19, trong khi đó các nước phát triển như Nhật Bản con số này là 141; Cơ cấu giường bệnh tư nhân cần tăng lên theo chính sách chung với mục tiêu đến năm 2010, số giường bệnh/vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 20,5 giường (có 2 giường của bệnh viện tư nhân) và đến năm 2020 là 25 giường (có 5 giường của bệnh viện tư nhân) – theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành y tế phê duyệt tại QĐ 153/QĐ-TTg. Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư nguồn lực cho ngành y tế, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất. Chính phủ giao ngành y tế đầu tư cơ sở vật chất bằng trái phiếu Chính phủ cho y tế từ tuyến cơ sở đến trung ương nhằm đáp ứng nhu cầu KCB cho nhân dân.
Đối với đầu tư tư nhân, thời gian vừa qua lĩnh vực bệnh viện đã có đầu tư tư nhân với 93 bệnh viện tư, tập trung nhiều nhất ở thành phố Hồ Chí Minh (30 bệnh viện), Hà Nội (12 bệnh viện). Quy mô các bệnh viện tư hiện đa phần còn khiêm tốn.
2. Về môi trường đầu tư của Việt Nam nói chung và với y tế nói riêng
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12/1987 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam. Trước đòi hỏi của thực tế và sự góp ý của các nhà đầu tư nước ngoài, Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Bằng việc cho ra đời Luật đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005 (cùng có hiệu lực từ 1/7/2006), Chính phủ Việt Nam đã tạo ra bước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến để tạo thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài như được quyền đầu tư kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm, thay vì chỉ được làm những việc cơ quan Nhà nước cho phép. Nguyên tắc này được áp dụng cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước từ năm 2000, nay được áp dụng chung cho cả khu vực nước ngoài. Ngoài ra việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị… do vậy đó tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn.
Những biện pháp cải cách trên đó trở thành một trong những yếu tố quan trọng góp phần khôi phục và tăng nhanh nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam trong năm 2005. FDI tăng nhanh trở lại còn do các nguyên nhân quan trọng khác như sự ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nâng cao.
Kết quả, Việt Nam đã thu hút được một lượng FDI ngày càng lớn: hầu như từ con số không vào năm 1986, đã tăng lên tới 3,2 tỷ USD năm 1997, sau đó do bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đó giảm xuống trong các năm 1998-2000 (có năm chỉ thu hút được 1,58 tỷ USD như năm 1999). Những năm gần đây, FDI vàoViệt Nam đã được phục hồi và có xu hướng tăng trở lại, từ 2,6 tỷ USD năm 2001 đã tăng lên 5,8 tỷ USD năm 2005. FDI tăng lên không chỉ hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất nước, đào tạo tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động Việt Nam.
3. Đánh giá nhu cầu kêu gọi đầu tư của các tỉnh thành phố trọng điểm:
Qua khảo sát số liệu về nhu cầu đầu tư của 22 tỉnh, thành phố trọng điểm, có thể thấy các tỉnh, thành hầu hết đã có quy họach đất đai dành riêng cho đầu tư vào lĩnh vực y tế, xã hội (phụ lục 1).
Các loại hình kêu gọi đầu tư gồm: Dịch vụ y tế, khám chữa bệnh cho người dân tại địa phương, các bệnh viện chuyên khoa, khu nghỉ dưỡng, săn sóc phục hồi sức khỏe, cho nhu cầu của khách du lịch, nhà đầu tư, người nước ngoài đang rất cần được đầu tư.
Thực trạng hệ thống pháp lý về hợp tác công tư và đầu tư trong y tế
Các quy định về KCB và y tế dự phòng trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã được ban hành gần 20 năm, từ đó đến nay, thực tiễn đã có nhiều thay đổi, một số quan hệ xã hội mới nảy sinh nhưng chưa có quy phạm pháp luật đồng bộ để điều chỉnh như quyền và nghĩa vụ của người bệnh, của người hành nghề và của các cơ sở KCB; công nhận chất lượng đối với cơ sở KCB; sai sót chuyên môn kỹ thuật và giải quyết khiếu nại của người bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong KCB... Đây là các khoảng trống pháp luật cần phải được điều chỉnh.
Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về y tế đó, có 3 văn bản pháp lý quy định chung về khám chữa bệnh, bao gồm:
- Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 11/7/1989: Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân được Quốc hội ban hành năm 1989 - đạo luật đầu tiên về y tế trong suốt bốn ngàn năm lịch sử thành lập nước và pháp quyền Việt nam - đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của ngành y tế trong lĩnh vực lập pháp. Đây là đạo luật quy định về y tế, về bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Luật này quy định về vệ sinh, phòng chống dịch bệnh; thể dục thể thao, điều dưỡng và phục hồi chức năng; khám bệnh, chữa bệnh; y học, dược học cổ truyền; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, thương binh, bệnh binh, người tàn tật và đồng bào các dân tộc thiểu số; thực hiện kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ sức khoẻ phụ nữ, trẻ em; thanh tra nhà nước về y tế.
- Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ngày 12/7/2006: được xây dựng trên cơ sở Pháp lệnh phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 31/5/1995. Đây là nền tảng pháp lý hỗ trợ cho việc huy động toàn xã hội tham gia phòng chống AIDS. Luật này quy định về các biện pháp phòng chống nhiễm HIV/AIDS, quy định về chống kỳ thị, phân biệt đối xử, bảo đảm quyền con người, vấn đề quản lý nhà nước đối với công tác phòng chống nhiễm HIV/AIDS.
- Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân ngày 25/02/2003: Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành, cùng với pháp luật về công ty, pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật về công ty, pháp luật về doanh nghiệp tư nhân, một hệ thống y, dược tư nhân được hình thành bên cạnh hệ thống y, dược nhà nước đã góp phần làm giảm bớt gánh nặng của nhà nước trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Đây là những văn bản hết sức quan trọng phù hợp với định hướng của Nhà nước về xã hội và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế. Chưa bao giờ quyền được khám, chữa bệnh của nhân dân lại được mở rộng và chú trọng đến chất lượng như hiện nay. Trên 13,000 cơ sở hành nghề y tư nhân với 85 bệnh viện tư đã giúp cho người dân có điều kiện chọn lựa cơ sở khám, chữa bệnh có chất lượng và tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế nhà nước và y tế tư nhân.
Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm ban hành ngày 21/11/2007 tại kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khoá XII quy định về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; kiểm dịch y tế biên giới; chống dịch; các điều kiện bảo đảm cho công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm ở người.
Bên cạnh việc cho phép, tạo hành lang pháp lý cho hệ thống tư nhân, các chiến lược y tế quốc gia thậm chí đã xây dựng các chỉ tiêu phát triển về giường bệnh tư nhân. Quyết định 153/2006/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 và Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch mạng lưới khám chữa bệnh đã xác định: Đến năm 2010, đạt tỷ lệ tối thiểu là 20,5 giường bệnh/10.000 dân (trong đó có 2 giường bệnh tư nhân). Đến năm 2020, đạt tỷ lệ tối thiểu là 25,0 giường bệnh/10.000 dân (trong đó có 5 giường bệnh tư nhân);
Ngày 1/4/2009, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 42-KL/TW về Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương và giá dịch vụ y tế) đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, trong đó nêu rõ “Hệ thống y tế công lập phải giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt trong việc giữ vững định hướng công bằng hiệu quả, phát triển và đảm bảo an sinh xã hội. Vì vậy, hệ thống y tế công lập phải được tiếp tục mở rộng và phát triển. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư, phát triển bệnh viện công, đổi mới cơ chế hoạt động của các bệnh viện công để hoạt động ngày càng năng động, hiệu quả. Không cổ phần hoá bệnh viện công lập hiện có; khuyến khích xã hội hóa, xây dựng và thành lập mới bệnh viện cổ phần, bệnh viện liên doanh, cơ sở khám chữa bệnh, bệnh viện tư nhằm tăng thêm số lượng cơ sở cung ứng dịch vụ và cơ sở dịch vụ y tế chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao và đa dạng của nhân dân, tăng khả năng lựa chọn của người dân đối với các dịch vụ y tế; vừa bảo đảm có đủ cơ sở cho người nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế có chất lượng ngay từ tuyến ban đầu”.
Nhiều chính sách và quy phạm pháp lý về xã hội hóa công tác y tế đã cho phép và khẳng định sự đối xử bình đẳng của Nhà nước đối với các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực xã hội hóa (trong đó có y tế). Nghị định 69/2008/NĐ-CP đã quy định: “Cơ sở thực hiện xã hội hóa được tham gia cung cấp các dịch vụ công do nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật” và “Cơ sở y tế ngoài công lập, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế có đủ điều kiện khám, chữa bệnh theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về y tế, được phép tổ chức khám, chữa bệnh cho các đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế và do người có thẻ bảo hiểm y tế tự lựa chọn nơi khám, chữa bệnh”.
4. Một số đề xuất thúc đẩy và thu hút đầu tư trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam
Trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào lĩnh vực bệnh viện, nghiên cứu sản xuất dược phẩm, trang thiết bị, sinh phẩm y tế còn hết sức hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế mạnh của Việt Nam. Mặt khác, so với hoạt động ĐTNN trong các lĩnh vực khác, hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực này cũng chưa cao.
Những yếu tố làm hạn chế số lượng cũng như chất lượng nguồn vốn ĐTNN vào lĩnh vực y tế:
- Đầu tư cho y tế đòi hỏi nguồn vốn lớn, thu hồi vốn chậm (do hạn chế về sức mua) nên thu hút ĐTNN trong lĩnh vực này gặp nhiều rủi ro hơn các lĩnh vực khác do chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu, thiếu đảm bảo về điều kiện hạ tầng, đất đai và nguồn nhân lực.
- Nền y tế của Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp, phân tán, thiếu tính chuyên nghiệp.
- Chiến lược, định hướng thu hút ĐTNN vào lĩnh vực y tế chưa được xác định rõ ràng.
- Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về ĐTNN trong lĩnh vực này còn nhiều bất cập, chưa thật sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài.
- Công tác vận động, xúc tiến ĐTNN vào lĩnh vực này còn kém hiệu quả.
Một số nhóm chính sách sau được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trong ngành y tế, gồm có:
- Thứ nhất: cần nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành/sản phẩm của y tế theo hướng gắn kết với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển hệ thống y tế đến 2020 và 2030; các địa phương cần có chiến lược thu hút, sử dụng đầu tư ngoài ngân sách và căn cứ các quy hoạch nói trên, các ngành, địa phương cần xây dựng các Danh mục dự án ưu tiên gọi vốn đầu tư (trong nước, nước ngoài) với các thông tin cụ thể về mục tiêu, địa điểm, công suất và đối tác Việt Nam để làm cơ sở cho việc tổ chức các chương trình vận động đầu tư.
- Thứ hai: Hoàn thiện cơ chế, chính sách về khuyến khích ĐTNN, gồm: chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; chính sách phát triển thị trường vốn và tín dụng đầu tư; chính sách thương mại và thị trường; chính sách đất đai; chính sách phát triển hạ tầng nông nghiệp và nông thôn; chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế.
- Thứ ba: Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác vận động, xúc tiến đầu tư theo hướng: coi việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai có hiệu quả các dự án đầu tư đó được cấp Giấy phép đầu tư; nhanh chóng xây dựng kế hoạch và chương trình vận động đầu tư cụ thể ở trong nước và ngoài nước, tập trung vào các các ngành /dự án và đối tác đầu tư trọng điểm cần thu hút đầu tư; bố trí đủ ngân sách cho hoạt động xúc tiến đầu tư như một khoản chi riêng thuộc kinh phí ngân sách chi thường xuyên hàng năm của Bộ Y tế và kinh phí sự nghiệp y tế các địa phương; triển khai nghiên cứu tiềm năng đầu tư của các nước /vùng lãnh thổ đầu tư vào lĩnh vực này để có chính sách, cơ chế vận động thích hợp; đổi mới và nâng cao chất lượng các ấn phẩm tuyên truyền về đầu tư nói chung và đầu tư trong lĩnh vực y nhằm tạo sức hấp dẫn ban đầu của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Sự phối hợp Công – Tư tại Việt Nam đã được thực hiện ở cấp độ chính sách và thực hiện. Hiện nay có một số mô hình kết hợp công tư được thực hiện song còn ở mức độ hạn chế. Về cơ sở pháp lý, Chính phủ đã xây dựng và ban hành Nghị định 108/2009/NĐ-CP quản lý, khuyến khích đầu tư theo hình thức công - tư kết hợp, nghĩa là nhà nước cùng với tư nhân kết hợp trong các dự án hạ tầng (PPP = Public Private Partnership). Với phương thức này, chúng ta sẽ huy động được nguồn lực to lớn hơn để phát triển cơ sở hạ tầng.
Trong một số lĩnh vực khác chúng ta đang làm hợp tác công tư, thể hiện dưới các dự án với các công đoạn xây dựng, kinh doanh, chuyển giao như BOT, BT, BO…, trong đó tư nhân đang tham gia xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Thực tế vai trò của tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng và nhiều lĩnh vực khác rất quan trọng. Tuy nhiên, về cơ sở pháp lý cho vấn đề này vẫn chưa đầy đủ, mới chỉ có các nghị định về BOT, BT…
Trong PPP, Chính phủ hỗ trợ một số công đoạn, một số khâu để tư nhân có điều kiện đầu tư tốt hơn. Dự thảo Nghị định về PPP đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng với sự trợ giúp, tư vấn của các nước có nhiều kinh nghiệm thành công với mô hình công - tư kết hợp này như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Còn ở Việt Nam, PPP vẫn còn là một mô hình rất mới. Hiện tại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hoàn thành dự thảo khung pháp lý về áp dụng mô hình PPP tại Việt Nam và đang trình Chính phủ thông qua. “Nếu khung pháp lý này được thông qua và áp dụng trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng hàng không dân dụng, thì sẽ lôi kéo được sự quan tâm của các nhà đầu tư tư nhân, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, tham gia các dự án tại Việt Nam”,
Quan niệm về hợp tác công – tư cũng đang thay đổi. Hiện nay đã xuất hiện thuật ngữ “Đối tác công – tư” thay vì hợp tác với ý nghĩa Nhà nước và Tư nhân có vai trò như nhau trong một dự án/công việc nhất định và có quyền lợi và trách nhiệm tương đương.
Liên quan tới y tế, tại thành phố Hồ Chí Minh, Sở Y tế TP.HCM thông qua công tác quản lý nhà nước về y tế, sẽ tạo điều kiện để các khu vực y tế công, tư hợp tác phòng chống lao có hiệu quả. Thời gian tới sẽ quyết tâm giảm 50% tỉ lệ người mắc và chết do lao. Việt Nam là 1 trong 7 quốc gia có người nhiễm lao cao nhất thế giới. Bệnh lao hiện đang là gánh nặng của ngành y tế và xã hội. TP.HCM hàng năm có khoảng 15.000 người nhiễm lao cá thể và khoảng 7.000 bệnh nhân mắc bệnh phổi có nguồn lây vi trùng lao. Tình hình nhiễm lao tính đến thời điểm hiện nay, tuy có dấu hiệu giảm, nhưng tốc độ giảm rất chậm. Mặt khác, nhân lực làm trong công tác phòng chống lao còn thiếu, bộ máy hoạt động còn nhiều bất cập và nhận thức của bệnh nhân lao còn hạn chế nên kết quả của công tác phòng chống chưa đạt như mong muốn.
Tại Thái Bình, dự án Bảo đảm chất lượng trong TB/HIV đã tập huấn cho hệ thống tư nhân về khám, phát hiện sớm Lao và chuyển đến Bệnh viện Lao để chẩn đoán xác định và nhờ vậy đã làm tăng tỷ lệ phát hiện Lao và Lao/HIV.
Tại Lạng Sơn, hệ thống hiệu thuốc đã tham gia vào chương trình giảm hại qua việc phân phát bơm tiêm sạch và tư vấn, giáo dục hành vi an toàn cho các đối tượng nguy cơ cao để giảm lan truyền/mắc HIV/AIDS.
Các tồn tại hiện nay:
Do kinh phí hạn hẹp, đầu tư Nhà nước mất cân đối. Chi phí y tế gia tăng, đặc biệt khi mô hình bệnh tật chuyển sang các bệnh không lây nhiễm.
Hệ thống tư nhân thường có khuynh hướng tập trung ở khu vực đô thị, vào các dịch vụ có khả năng sinh lời; nhằm vào đối tượng có khả năng chi trả.
Vẫn còn tình trạng quan niệm chưa đúng mức về hệ thống tư nhân, gắn phạm trù tư nhân với ý nghĩa vị lợi, chạy theo lợi ích và chất lượng kém.
Chưa có chiến lược phát triển bổ trợ lẫn nhau cho hệ thống công và tư. Trong hệ thống y tế, chưa có quy hoạch phát triển các lĩnh vực mà Nhà nước bắt buộc phải đầu tư và vận hành; các lĩnh vực và địa bàn Nhà nước có thể để tư nhân đảm nhiệm đầu tư và cung cấp dịch vụ công.
1) Định nghĩa, thuật ngữ[1][1]:
Cần thống nhất về quan niệm và cách ứng xử đối với hệ thống tư nhân.
Phối hợp công – tư là một cách tiếp cận nhằm giải quyết các vấn đề sức khoẻ công cộng thông qua các nỗ lực kết hợp giữa các tổ chức phát triển nhà nước và tư nhân bổ trợ lẫn nhau qua năng lực của mình, trong đó các đối tác nhà nước và tư nhân phối hợp tham gia trong việc xác định mục tiêu, phương pháp và việc thực thi các thoả thuận phối hợp.
Hệ thống công: bao gồm Chính phủ (từ cấp quốc gia, tỉnh, huyện, xã và các cơ quan thuộc chính quyền địa phương, các cơ quan chính phủ và liên chính phủ nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ công.
Hệ thống tư (các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhận – NGO), là một bộ phận của hệ thống y tế quốc gia, được định nghĩa tại Báo cáo của Tổng thư ký tại Đại hội đồng năm 2001 về Phối hợp giữa Liên hiệp quốc và các đối tác thích hợp như là “tất cả các cá nhân, các doanh nghiệp, tập đoàn thương mại, các tổ chức kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và các hình thức liên minh hoặc tổ chức từ thiện”[2][2] .
2) Các hình thức (loại hình hợp tác công tư)
Cơ sở dữ liệu của Sáng kiến hợp tác công tư vì sức khỏe của Diễn đàn toàn cầu về nghiên cứu y tế liệt kê 91 hình thức hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế, trong đó 76 loại hình thiết lập nhằm phòng chống bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là AIDS, Lao và Sốt rét; 4 loại hình nhằm vào các vấn đề sức khỏe sinh sản; 3 loại hình đối với phòng chống suy dinh dưỡng [3][3].
Bảng 1: Một số mục tiêu hợp tác công tư
|
|
Mục đích |
Hợp tác |
|
1 |
Phát triển sản phẩm |
GA TBDD, IAVI (The International Aids Vaccine Initiative), MMV, MVI |
|
2 |
Nâng cao tiếp cận với các sản phẩm CSSK |
Global Alliance to Eliminate Leprosy (GAEL), Global Polio Eradication Initiative (GPEI)… |
|
3 |
Các cơ chế điều phối toàn cầu |
Global Fund to Fight HIV/AIDS, TB and Malaria; Stop TB |
|
4 |
Tăng cường dịch vụ y tế |
Roll Back Malaria, Safe Injection Global Network, and Stop TB; the Global Alliance for Vaccines and Immunization. Gates Foundation/Merck Botswana Comprehensive HIV/AIDS partnership. |
|
5 |
Vận động và giáo dục công chúng |
Alliance for Microbicide Development (AMD), Global Business Coalition on HIV and AIDS |
|
6 |
Quản lý và bảo đảm chất lượng |
The International Conference on Harmonisation of Technical Requirements for Registration of Pharmaceutical for Human Use. |
Thuật ngữ hợp tác công tư bao hàm nghĩa rộng mới mục tiêu hợp tác công tư thường bao gồm (xem trình bày tại bảng 1):
- Phát triển các sản phẩm: ví dụ thuốc điều trị sốt rét, sáng kiến phát triển vắc-xin phòng chống AIDS.
- Phân phối các sản phẩm được bao cấp, kiểm soát một số dịch bệnh (ví dụ sáng kiến phân phát thuốc điều trị Phong).
- Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế (ví dụ Quỹ Gate, Liên minh toàn diện phòng chống HIV/AIDS Merk-Botswana).
- Giáo dục công chúng, cộng đồng.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm và các quy chế.
2) Nội dung hợp tác cụ thể:
2.2. Kết hợp công – tư trong một số chương trình, dự án:
Một dạng hợp tác công tư hay gặp là các chương trình y tế có sự tham gia của hệ thống tư nhân (chương trình mục tiêu có sự tham gia của tư nhân). Một số tổ chức quốc tế có triển khai các mô hình này như: Mạng lưới tiêm an toàn toàn cầu, Ngăn chặn Lao (Ban thư ký đặt tại WHO); Liên minh toàn cầu về Văc-xin và Tiêm chủng (Thư ký đặt tại UNICEF).
Một mô hình khác là Các tổ chức thực chất là tư nhân nhưng hoạt động vì mục tiêu công cộng (ví dụ như Quỹ toàn cầu phòng chốngHIV/AIDS, Lao và Sốt rét).
Thí điểm hệ thống tư tham gia vào các chương trình y tế quốc gia bao gồm một số hình thức thông dụng sau đây (xem tóm tắt tại bảng 2):
- Phòng chống Lao (khám, phát hiện, tham gia quản lý điều trị DOT).
- Phòng chống HIV/AIDS: Tư vấn VCT, tham gia các chương trình giảm hại, quản lý điều trị bệnh nhân tại cộng đồng.
- Phòng chống một số dịch bệnh nguy hiểm: Tiêu chảy cấp, cúm…
- Ung thư (sàng lọc, giáo dục bệnh nhân).
- Phòng chống một số bệnh không lây nhiễm: tiểu đường, bướu cổ: Tư vấn, khám, quản lý điều trị, phục hồi chức năng tại cộng đồng.
- Thí điểm cho phép cơ sở tư nhân đủ điều kiện thực hiện Tiêm chủng mở rộng (tham gia chương trình).
Một số công việc hệ thống nhà nước cần làm cho hệ thống tư nhân:
- Tập huấn cho cơ sở tư nhân tham gia và giáo dục lợi ích của việc tham gia
- Thiết lập, duy trì hệ thống chuyển tuyến và báo cáo của hệ thống tư nhân và hệ thống nhà nước.
- Hỗ trợ kinh phí đối với các hoạt động, dịch vụ do tư nhân thực hiện.
3. Các chương trình hợp tác Nhà nước – Tư nhân trong một số dự án và lĩnh vực đầu tư:
- Phát triển (nghiên cứu, thử nghiệm) các sản phẩm phòng bệnh, chữa bệnh: thử nghiệm lâm sàng thuốc, Vac-xin, sinh phẩm y tế. Đối tượng hợp tác là các cơ sở, Viện nghiên cứu và các hãng, cơ sở nghiên cứu trong ngoài nước.
- Thí điểm cơ chế Nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ y tế của tư nhân ở những lĩnh vực và địa bàn mà tư nhân có thể mạnh: ví dụ cung ứng thuốc, vac-xin, sinh phẩm; mạng lưới phân phối sản phẩm, cứu trợ thiên tai.
4. Các khuyến nghị và một số vấn đề cần lưu tâm:
- Nhận thức, chủ động phòng ngừa và giải quyết xung đột lợi ích:
Các hãng, công ty hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận phối hợp với nhà nước cần khuôn khổ pháp lý tốt để giải quyết xung đột lợi ích giữa các cơ quan, cá nhân thuộc hệ thống nhà nước và tư nhân. Khi Hợp tác với các đối tác tư nhân, cần tham khảo Hướng dẫn tương tác với các doanh nghiệp thương mại nhằm mục tiêu sức khoẻ của Tổ chức Y tế thế giới (TheGuidelines on Interaction with Commercial Enterprises to Achieve Health Outcomes).
- Cần xây dựng quan điểm đúng đắn về hệ thống y tế lồng ghép và hợp tác công tư trong hệ thống nhà nước. Bảo hiểm y tế cần mở rộng chấp nhận hệ thống tư nhân. Các bệnh viện, cơ sở y tế công cần quan tâm tới việc mở rộng diện bao phủ dịch vụ của mình thông qua quan hệ hợp tác với các đơn vị khác bao gồm cả tư nhân.
- Hệ thống kiểm định và giám sát chất lượng cần được thiết lập để tiêu chuẩn hoá thực hành và chất lượng dịch vụ y tế của các cơ sở hành nghề.
- Mạnh dạn cho phép hệ thống tư tiếp cận nguồn vốn nhà nước trong triển khai các chương trình y tế và đầu tư vào lĩnh vực xã hội hoá. Nhà nước cần xây dựng các mô hình cho sự tham gia và đầu tư của tư nhân để có thể nhân rộng.
- Cần nhận dạng các lĩnh vực, khoảng trống, chủ động tạo nên các cơ chế, diễn đàn cho việc trao đổi, thông tin giữa hệ thống Nhà nước và tư nhân (hội thảo, diễn đàn, ấn phẩm, tham quan mô hình...).
- Thúc đẩy giám sát và hỗ trợ lâu dài với các đối tác và hệ thống tư nhân.
Tóm lại, Hợp tác Công – Tư đã được chứng minh có vai trò tốt phục vụ lợi ích công cộng và bổ trợ cho hệ thống Nhà nước trong lĩnh vực y tế. Hợp tác Công -Tư không phải là tư nhân hoá các cơ sở nhà nước. Bên cạnh việc đảm bảo hành lang pháp lý, cần thống nhất từ quan niệm, cách làm và chủ động ngăn ngừa các xung đột lợi ích có thể phát sinh. Với lĩnh vực y tế, Việt Nam có thể tiếp thu và vận dụng các mô hình quốc tế về hợp tác công tư trong một số lĩnh vực (Bệnh viện, phòng chống Lao, HIV/AIDS…) để tăng cường sự tiếp cận và cải thiện chất lượng chăm sóc tư nhân.
Trên đây là báo cáo tổng quan của Bộ Y tế về nhu cầu, môi trường đầu tư và kết hợp công tư trong lĩnh vực y tế. Bộ Y tế mong nhận được các thảo luận, đề xuất thiết thực và kiến nghị với các cấp có thẩm quyền để tăng đầu tư, nâng cao hiệu quả đồng vốn nhằm xây dựng hệ thống y tế VN cả y, dược, trang thiết bị ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Bảng 2: Ví dụ một số cơ chế Hợp tác Công – Tư trong lĩnh vực y tế dự phòng
|
Lĩnhvực/ Chương trình |
Hệ thống tư nhân |
Hệ thống Nhà nước |
Cơ chế thực hiện |
|
Tiêm chủng mở rộng |
Cung cấp dịch vụ tiêm chủng theo chương trình và tự nguyện |
Ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, thực hiện kiểm định chất lượng; hỗ trợ chuyên môn, tập huấn; Cần tăng cường giám sát kỹ thuật và thực hành: đặc biệt là Tiêm an toàn và An toàn tiêm chủng. |
Hợp đồng cung ứng với Trung tâm Y tế dự phòng
|
|
HIV/AIDS |
Tư vấn VCT; tham gia chương trình giảm hại; thực hiện các chương trình điều trị ngòng ngừa theo tiếp cận hội chứng với STI; Tham gia quản lý, điều trị người nhiễm; Chăm sóc tại nhà Hệ thống đồng đẳng viên |
Tiêu chuẩn; kiểm định chất lượng Hỗ trợ kỹ thuật
|
Hợp đồng Trả thù lao theo ca/trường hợp, dịch vụ |
|
Phòng chống Lao |
Tư vấn, khám, chuyển các trường hợp nghi Lao cho cơ sở NN Tham gia quản lý điều trị (DOT) |
Tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, kính hiển vi, kỹ thuật lab |
Hỗ trợ theo ca TB( ) được phát hiện Quản lý điều trị Bênh nhân hỗ trợ như đối với TYT xã |
|
Phòng chống dịch bệnh |
Tham gia giám sát dịch bệnh Theo sự huy động của NN khi có dịch Giáo dục, tuyên truyền VSPB
|
Tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật |
Huy động của cấp có thẩm quyền
|
|
Phòng chống các bệnh không lây nhiễm |
Tư vấn; Khám, sàng lọc Chẩn đoán, điều trị Phục hồi chức năng ở cấp độ gia đình, cộng đồng |
Nâng cao năng lực; Hỗ trợ kỹ thuật Đặt hàng |
|
[1][1] According to the latest Report by the UN Secretary-General on Enhanced Cooperation between the United Nations and All Relevant Partners, in Particular the Private Sector, issued in August 2003:
“Partnerships are commonly defined as voluntary and collaborative relationships between various parties, both State and non-State, in which all participants agree to work together to achieve a common purpose or undertake a specific task and to share risks, responsibilities, resources, competencies and benefits.”
[2][2] UN Doc. A/56/323: 45, Phụ lục I
Mệt mỏi, sụt cân sau thời gian dài táo bón, người phụ nữ 48 tuổi nhận kết quả không ngờ
Y tế - 1 tuần trướcGĐXH – Bản thân bệnh nhân nghĩ rằng do táo bón kéo dài dẫn đến chảy máu. Tuy nhiên, khi đi khám, kết quả nội soi đã khiến chị bất ngờ.
Người phụ nữ 67 tuổi ở Hà Nội mang khối u gan phình gấp 10 lần chỉ sau vài tháng dùng thuốc nam truyền miệng
Y tế - 1 tuần trướcGĐXH - Từ một khối u nhỏ chỉ 2 cm, người bệnh cho rằng chưa nguy hiểm nên đã quyết định tự điều trị tại nhà bằng thuốc nam không rõ nguồn gốc. Sau vài tháng, khối u tăng lên 20cm, hoại tử, buộc phải cắt gần một nửa lá gan.
Quả thận 'dập nát' của nam bệnh nhân 31 tuổi được bác sĩ đưa ra ngoài cơ thể rồi ghép lại thành công
Y tế - 1 tuần trướcGĐXH - Sau tai nạn giao thông nghiêm trọng, nam bệnh nhân 31 tuổi đứng trước nguy cơ mất quả thận phải suốt đời. Tuy nhiên, bằng kỹ thuật ghép thận tự thân đầu tiên, các bác sĩ đã “hồi sinh” thành công quả thận từng bị đứt rời và dập nát nặng.
Ca can thiệp tán sỏi hiếm gặp: Thận 'chui lên ngực', cột sống gập cứng khiến đường vào gần như bị khóa kín
Y tế - 2 tuần trướcGĐXH - Một ca tán sỏi qua da đặc biệt vừa được các bác sĩ khoa Phẫu thuật Tiết niệu và Nam học, Bệnh viện E thực hiện thành công cho người bệnh nam 65 tuổi có biến dạng cột sống nghiêm trọng suốt gần 20 năm.
Người phụ nữ nghe kém suốt 2 năm, bác sĩ phát hiện xương nhỏ nhất cơ thể bị 'đóng cứng'
Y tế - 2 tuần trướcGĐXH - Sau nhiều năm sống trong tình trạng nghe kém kéo dài, một phụ nữ 46 tuổi đã dần phục hồi sức nghe sau ca phẫu thuật nội soi thay thế xương bàn đạp bằng trụ gốm sinh học tại Bệnh viện E.
Bé trai 10 tuổi gần như chỉ thấy sáng tối, cải thiện thị lực sau phẫu thuật đục thủy tinh thể
Y tế - 2 tuần trướcGĐXH - Một bệnh nhi 10 tuổi mắc đục thủy tinh thể bẩm sinh kèm bệnh lý võng mạc trẻ sinh non vừa được phẫu thuật thành công, cải thiện đáng kể thị lực sau nhiều năm nhìn mọi thứ trong tình trạng mờ nhòe.
Ngày Dinh dưỡng cộng đồng Việt Nam lần thứ 6: Đưa lối sống lành mạnh đến gần hơn với người dân
Y tế - 2 tuần trướcNgày Dinh dưỡng cộng đồng Việt Nam lần thứ 6 khai mạc trong không khí sôi động, rực rỡ sắc màu. Hàng nghìn người dân cùng 20 đội chơi tham gia các hoạt động vận động, khám tư vấn sức khỏe và trình diễn tập thể, lan tỏa tinh thần sống khỏe, năng động và gắn kết cộng đồng.
Người dân hào hứng khám sức khỏe miễn phí tại Ngày Dinh dưỡng cộng đồng Việt Nam lần 6
Y tế - 2 tuần trướcSKĐS - Hàng nghìn người dân TPHCM đã tham gia thăm khám, kiểm tra thể trạng và nhận tư vấn dinh dưỡng miễn phí từ các chuyên gia, bác sĩ tại Ngày Dinh dưỡng cộng đồng Việt Nam lần thứ 6 tại Dinh Thống Nhất.
Loại quả nhiều người chê 'nhạt nhẽo' lại là kho dưỡng chất 'vàng' cho tim mạch và đôi mắt
Bệnh thường gặp - 3 tuần trướcGĐXH - Theo ThS.BS Nguyễn Vũ Bình, bí ngòi không chỉ là thực phẩm dễ chế biến mà còn chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể. Từ hỗ trợ thị lực, tăng cường sức khỏe tim mạch đến cải thiện tiêu hóa và bổ sung chất chống oxy hóa, bí ngòi được xem là lựa chọn tốt cho chế độ ăn uống lành mạnh hằng ngày.
Chính thức: Hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi
Dân số và phát triển - 3 tuần trướcChính phủ ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số. Một trong những nội dung đáng chú ý của nghị định là phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng từ năm 2027.
Loại quả nhiều người chê 'nhạt nhẽo' lại là kho dưỡng chất 'vàng' cho tim mạch và đôi mắt
Bệnh thường gặpGĐXH - Theo ThS.BS Nguyễn Vũ Bình, bí ngòi không chỉ là thực phẩm dễ chế biến mà còn chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể. Từ hỗ trợ thị lực, tăng cường sức khỏe tim mạch đến cải thiện tiêu hóa và bổ sung chất chống oxy hóa, bí ngòi được xem là lựa chọn tốt cho chế độ ăn uống lành mạnh hằng ngày.