Phân tích thực trạng chất lượng bệnh viện, TS. Khuê cho rằng tại các bệnh viện, hầu như bác sĩ tự quyết định, vai trò và sự tham gia của người bệnh rất mờ nhạt; người bệnh chưa được tư vấn đầy đủ, thông tin hướng dẫn trong bệnh viện còn thiếu trong khi người bệnh có các quyền như quyền lựa chọn phương pháp chẩn đoán, điều trị phù hợp, chấp nhận hoặc từ chối thử nghiệm lâm sàng, quyền từ chối phương pháp điều trị, thuốc và kỹ thuật...
Cũng theo TS. Lương Ngọc Khuê, việc quản lý chất lượng bệnh viện thì trừ một số bệnh viện triển khai ISO hầu hết chưa có công bố chính sách chất lượng, các hoạt động còn mang tính cục bộ; vẫn còn nặng “văn hóa buộc tội”- tiếp cận để giải quyết sai sót còn nặng về quy trách nhiệm cá nhân, chưa nhìn nhận lỗi thuộc về hệ thống.
ThS. Phạm Đức Mục, Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh nhận định, sai sót và tai biến trong khám chữa bệnh thường trực xảy ra ở mỗi cơ sở y tế. Các nguy cơ đối với người bệnh như nhiễm khuẩn bệnh viện (5-10%), phẫu thuật, thủ thuật gây tai biến, chẩn đoán sai, sai sót do nhân viên y tế nhiều áp lực... Thầy thuốc gây nên tai biến thì đền bù, hầu tòa có khi bỏ nghề trong khi bệnh nhân phải gánh chịu hậu quả khó lường.
Phó Cục trưởng Phạm Đức Mục cũng nêu lên 6 giải pháp toàn cầu về an toàn bệnh nhân là:
Thứ nhất, xác định chính xác bệnh nhân, sử dụng tối thiểu hai thông tin để dễ nhận dạng bệnh nhân, không phải là số giường và số phòng; ghi tên bệnh nhân trên ống xét nghiệm và có sự hiện diện của người bệnh và nhã phải dính chặt trên ống xét nghiệm trong suốt quá trình làm xét nghiệm.
Thứ hai là cải thiện thông tin giữa các nhân nhiên y tế: Làm rõ “y mệnh lệnh”, chuẩn hóa từ viết tắt, quy định thời gian và trả kết quả xét nghiệm đúng thời gian quy định.
Thứ ba là đảm bảo dùng thuốc an toàn cho người bệnh, rà soát các thuốc trông giống nhau hoặc nghe giống nhau; quản lý các dung dịch nồng độ cao ở gần nơi có người bệnh rối loạn hành vi, trẻ nhỏ.
Thứ tư, là xóa bỏ phẫu thuật sai vị trí, sai bệnh nhân và sai phương pháp, thực hiện quy trình xác định chính xác người bệnh trước phẫu thuật, đánh dấu vị trí phẫu thuật.
Thứ năm là giảm nguy cơ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế, tuân thủ các phòng ngừa cách ly trong các cơ sở khám chữa bệnh, các quy định về vô khuẩn khi làm thủ thuật xâm lấn, tuân thủ vệ sinh tay.
Cuối cùng là giảm nguy cơ ngã cho bệnh nhân do liên quan đến bệnh, sử dụng thuốc, phương pháp điều trị.
Huyền Trang