Cao Bằng: Tiếp thị xã hội các PTTT góp phần chia sẻ gánh nặng với ngân sách Nhà nước
Việc tiếp thị phương tiện tránh thai, trước hết là tạo thuận lợi cho người sử dụng chủ động theo ý muốn, thứ hai là góp phần giảm gánh nặng ngân sách với Nhà nước.
Việt Nam bắt đầu thực hiện tiếp thị xã hội PTTT từ năm 1993, qua gần 20 năm thực hiện, tiếp thị xã hội PTTT đã góp phần đa dạng hoá các kênh cung cấp, góp phần thúc đẩy chương trình Dân số-Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ). Kết quả quan trọng nhất của chương trình TTXH các PTTT là tạo sự chuyển đổi ý thức và hành vi của người dân đã quen với phương thức cung cấp miễn phí, bao cấp hoàn toàn, nay chấp nhận tự mua PTTT (như bao cao su, thuốc viên tránh thai) để thực hiện KHHGĐ và phòng chống HIV/AIDS. Sự chấp nhận đó ngày càng tăng trong cộng đồng, trên 70% số người sử dụng bao cao su, hơn 20% số người sử dụng thuốc viên tránh thai tự chi trả PTTT.
Trong chương trình DS-KHHGĐ giai đoạn 2011 - 2020, thị phần các PTTT miễn phí hàng năm giảm dần. Từ năm 2012, không có PTTT từ nguồn viện trợ mà chỉ được cung cấp từ nguồn ngân sách trong nước, do vậy đối tượng ưu tiên cấp PTTT miễn phí chỉ là người trong hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, đối tượng thuộc diện chính sách, đối tượng thuộc các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa.
Tại Cao Bằng, nhu cầu sử dụng các PTTT của các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ (ĐTSĐ) 15 - 49 tuổi tăng dần hàng năm. Trong 3 năm qua (từ 2009 đến 2011), số cặp vợ chồng trong ĐTSĐ chưa sử dụng BPTT tăng từ 17.327 cặp lên 21.090 cặp và cơ cấu sử dụng các BPTT cũng có sự thay đổi đáng kể: tỷ lệ sử dụng vòng giảm từ 74,3% xuống 70,2%; tỷ lệ sử dụng viên uống tránh thai tăng từ 8,6% lên 9,9%; tỷ lệ sử dụng thuốc tiêm tránh thai tăng từ 6,9% lên 9,5%. Hai biện pháp bao cao su và cấy tránh thai có xu hướng tăng nhưng tăng ít: bao cao su tăng 5,4 - 5,5% và cấy tránh thai tăng 0,3 - 0,5%.
Nhu cầu sử dụng PTTT của các đối tượng ngày càng tăng, trong khi đó lượng PTTT miễn phí ngày càng giảm nhưng hoạt động TTXH các PTTT tại Cao Bằng còn rất nhiều hạn chế và thách thức. Tuy được triển khai từ năm 2009 thông qua Hội KHHGĐ với sản phẩm tiếp thị là bao cao su, nhưng kết quả hàng năm đạt rất thấp; một số huyện chỉ quan tâm việc cấp PTTT miễn phí, chưa chú trọng đến TTXH và thị trường tự do các PTTT.
Hiện nay, mạng lưới TTXH tại các tuyến mới chỉ là những người trực tiếp làm công tác Dân số-KHHGĐ và chưa được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về TTXH. Bên cạnh đó, chưa có nguồn kinh phí để triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông, quảng bá sản phẩm và đào tạo về TTXH các PTTT. Sự tham gia vào mạng lưới TTXH các PTTT của các dịch vụ, cửa hàng tư nhân, cá nhân còn rất hạn chế. Các chính sách hiện hành về DS-KHHGĐ của địa phương đề ra đều chưa có liên quan đến tiếp thị xã hội các PTTT. Về nhận thức, đa phần người dân vẫn chưa có thói quen mua PTTT để sử dụng mà vẫn trông chờ vào sự cung cấp miễn phí PTTT.
Đến hết quý I/2012, trên địa bàn toàn tỉnh có 7.800 người đang sử dụng viên uống tránh thai và 4.000 người đang sử dụng bao cao su để tránh thai (có 2.300 người thuộc hộ nghèo, cận nghèo). Như vậy, tổng nhu cầu PTTT năm 2012 của tỉnh Cao Bằng là 101.400 vỉ thuốc uống tránh thai và 400.000 chiếc bao cao su. Trong khi đó, kế hoạch của Tổng cục DS-KHHGĐ cấp miễn phí chỉ đáp ứng 94,6% nhu cầu thuốc uống tránh thai và số bao cao su cho người sử dụng.