Hà Nội
23°C / 22-25°C

Chưa thể “nới lỏng” ngay chính sách DS-KHHGĐ ở Việt Nam

Thứ sáu, 10:32 12/06/2015 | Dân số và phát triển

GiadinhNet - Sau bài viết “Kiên trì duy trì mức sinh thấp hợp lý càng lâu càng tốt” đăng trên Báo GĐ&XH, số ra ngày 10/6, Ban biên tập nhận được rất nhiều ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực dân số bày tỏ sự đồng tình với quan điểm này. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Quốc Anh - nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu- Thông tin và Dữ liệu (Tổng cục DS-KHHGĐ).

 

Theo các chuyên gia, Việt Nam chưa thể “ nới lỏng” ngay chính sách, chương trình DS-KHHGĐ. 	Ảnh: Chí Cường
Theo các chuyên gia, Việt Nam chưa thể “ nới lỏng” ngay chính sách, chương trình DS-KHHGĐ. Ảnh: Chí Cường

 

“Nới lỏng” cần rất thận trọng, không phải là việc cần làm ngay

Từ quan điểm nhân khẩu học kinh tế, trong lĩnh vực dân số, khi thực hiện KHHGĐ với mục tiêu giảm sinh, bao giờ cũng tồn tại hai quan điểm: Một là, phát triển KT-XH, đời sống, trình độ dân trí cao lên, đương nhiên kéo theo mức sinh sẽ giảm, dân số sẽ ổn định. Hai là, đẩy mạnh công tác KHHGĐ/SKSS, đưa giảm sinh là mục tiêu trọng tâm, tiến tới đạt mức sinh thay thế và dân số phát triển ổn định.

Có rất nhiều tranh luận giữa hai quan điểm này. Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc đã tổng kết rằng, phát triển KT-XH để tiến tới giảm sinh, ổn định tăng dân số sẽ mất nhiều thời gian (qua bài học ở các nước đã phát triển). Đối với các nước nghèo, đang phát triển, để sớm ổn định dân số, làm cơ sở cho phát triển KT-XH, cần phải thực hiện KHHGĐ/SKSS, trong đó ưu tiên cho mục tiêu giảm sinh, sớm đạt mức sinh thay thế, ổn định qui mô dân số. Đây là chương trình hiệu quả, tiết kiệm thời gian nhất.

Các nhà nhân khẩu học kinh tế đã xây dựng phương pháp tính chi phí lợi ích giữa đầu tư cho công tác KHHGĐ so sánh với đầu tư phát triển cho các lĩnh vực kinh tế xã hội, tiêu biểu là các nhà khoa học của nhóm  Future  Groups (Mỹ). Họ đã xây dựng phương pháp luận và tính toán hiệu quả chi phí đầu tư cho nhiều quốc gia trên thế giới. Ví dụ, ở Mỹ, 1 USD đầu tư cho KHHGĐ đem lại hiệu quả bằng 100 USD cho phát triển KT-XH. Ở Thái Lan, hiệu quả này là 1 bath - 40 bath. Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc cũng đã tính chung cho chương trình KHHGĐ của nhiều quốc gia, hiệu quả này là 1 USD - 33 USD. Tại Việt Nam, nhóm Future Groups đã tính hiệu quả chi phí là 1 đồng đầu tư cho dân số sẽ đem lại hiệu quả 7,3 đồng so với đầu tư cho các lĩnh vực xã hội cơ bản. Các nhà nhân khẩu học Việt Nam sử dụng cùng phương pháp và tính được kết quả là 1 đồng – 8,2 đồng.

Khi đã đạt được mục tiêu giảm sinh, nhiều người cũng đặt vấn đề ngược lại là, có nên nới lỏng chương trình KHHGĐ (mức sinh) hay không. Theo tôi, “nới lỏng” cần rất thận trọng và không phải là việc cần làm ngay. Ngay như việc học tập kinh nghiệm của các nước cũng tùy từng nước, từng bối cảnh cụ thể.

Qua bài học kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp ở gần Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. Các nước và vùng lãnh thổ này đã, đang gặp rất nhiều khó khăn và có thể coi là thất bại trong việc khuyến sinh khi mức sinh xuống quá thấp (trung bình 1,3-1,5 con). Đây là những bài học rất hữu ích cho Việt Nam. Tuy nhiên, phải nhìn nhận tổng thể về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và dân số.

Nhìn ra các nước có mức sinh thấp

Những nước, vùng lãnh thổ này đều có quy mô dân số nhỏ (Hàn Quốc khoảng 48 triệu dân, Đài Loan khoảng 23 triệu dân, còn Singapore khoảng hơn 5 triệu dân). Khi có chính sách khuyến sinh, số lượng tăng dân số của họ không lớn.

Họ là các nước đã phát triển có thu nhập cao, trình độ dân trí cao, tỷ lệ dân sống ở thành thị đều trên 90%. Những nước này đều đã thành công trong trong chương trình KHHGĐ sớm và đã có mức sinh đạt rất thấp trong một thời gian dài. Họ đã phát huy được kết quả sớm ổn định qui mô dân số để tạo ra các bước phát triển thần kỳ về KT-XH. Những yếu tố phát triển KT-XH này đã tác động trở lại rất lớn đến diễn biến mức sinh.

Còn ở Việt Nam thì sao? Quy mô dân số chúng ta đứng thứ 13 trên thế giới với khoảng 91 triệu dân. Hãy nhìn bài học của các nước có quy mô dân số lớn như Nhật Bản, Trung Quốc. Nhật Bản đã thực hiện thành công chương trình Dân số từ rất lâu, tổng tỷ suất sinh rất thấp. Trình độ dân trí, thu nhập của người dân rất cao. Tuy vậy, Nhật Bản vẫn chưa ban hành chính sách khuyến sinh. Tại Trung Quốc, dù tổng tỷ suất sinh đã rất thấp trong một thời gian dài nhưng Trung Quốc mới chỉ nới lỏng từ chính sách 1 con, sang cho phép một số vùng dân cư dân tộc ít người, một số nhóm đối tượng đặc biệt được phép sinh 2 con.

Việt Nam mới thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp lên mức trung bình trong một vài năm gần đây, nhưng vẫn là tốp thu nhập trung bình thấp. Trình độ dân trí chưa cao, không đồng đều giữa các vùng, thể hiện ở chỉ số phát triển con người (HDI). Tuy tỷ lệ đi học, biết chữ cao, nhưng thực chất, khi theo dõi chỉ số HDI trong nhiều năm gần đây, chúng tôi thấy không khả quan như vậy. Nếu trước đây, trình độ văn hóa trong HDI tính bằng tỷ lệ nhập học thì chỉ số này của Việt Nam khá cao, xếp hạng cũng khả quan. Nhưng từ 2010, khi Liên Hợp Quốc thay đổi cách tính bằng số năm học trung bình, chỉ số HDI và thứ hạng của Việt Nam giảm nhiều. Nếu số năm học trung bình chỉ khoảng xung quanh 3 năm, thì có thể bị xếp vào nhóm mù chữ vì khả năng tái mù rất cao. Có những năm chỉ số số năm học trung bình của Việt Nam còn thấp hơn cả Lào, Campuchia. Điều này tác động lớn đến nhận thức, ý thức, tránh nhiệm… của người dân. Chưa kể đến lối sống, phong tục tập quán, tập tục truyền thống, … của người dân cũng ảnh hưởng mạnh đến hành vi sinh đẻ.

Tuy Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế nhưng chưa thật sự ổn định. Những năm gần đây còn có xu hướng tăng, giảm, lên, xuống. Việt Nam hiện đang ở giai đoạn cơ cấu dân số “vàng”, tức là cứ hai người trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) thì có một người trong nhóm tuổi phụ thuộc. Đại đa số những người trong độ tuổi lao động là những người trong độ tuổi sinh đẻ (phụ nữ là 15-49 tuổi). Nhìn trên tháp tuổi dân số Việt Nam, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của Việt Nam sẽ đạt cực đại vào năm 2020-2025 (khoảng 25-26 triệu). Đây là nhóm có tiềm năng sinh đẻ cao. Do vậy theo tính toán, nhu cầu các biện pháp tránh thai trong thời gian tới vẫn là rất lớn, Việt Nam chưa thể thả lỏng chính sách, chương trình KHHGĐ.

Hậu quả gì nếu “nới lỏng”, không kiểm soát mức sinh?

Đương nhiên, để tỷ lệ sinh tăng, nếu chỉ xét riêng năm đó, có thể chúng ta chưa thấy rõ hậu quả, với tỷ lệ sinh tăng vài phần nghìn mỗi năm. Nhưng chỉ sau 5-10 năm, khi những đứa trẻ này lớn lên, nhu cầu về an sinh xã hội và tác động đến phát triển KT-XH sẽ rất rõ ràng, bởi số tăng lên tới hàng triệu người ở mỗi nhóm tuổi.

Cứ mỗi lần tuyển sinh, các nhà trường lại đau đầu vì lượng học sinh tăng đột biến, không theo qui luật dẫn đến không đảm bảo số lớp, trường, phải tăng ca… Rồi áp lực cho ngành Y tế trong công tác khám, chữa bệnh, quá tải bệnh viện, bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi… Đó là chưa nói đến giải quyết việc làm, đảm bảo làm đúng ngành, nghề được đào tạo; Áp lực lên môi trường, an sinh xã hội… Đơn cử hiện nay, số thí sinh thi vào THPT tăng cao do số trẻ sinh cao trong năm Nhâm Thìn (năm 2000).

Có ý kiến cho rằng, nên tuyên truyền cho người dân “Sinh con có trách nhiệm”. Quan điểm của tôi tuyên truyền như vậy còn chung chung quá! Chúng ta đã có bài học từ Pháp lệnh Dân số 2003, và điều 10 qui định “quyền” và “trách nhiệm” của người dân trong việc quyết định số con. Nếu tuyên truyền không trúng, người dân dễ hiểu nhầm chủ trương, chính sách của Nhà nước, sẽ gây bùng nổ dân số. Bài học kinh nghiệm ở Indonesia cho thấy, khi mức sinh đã đạt mức thay thế 2,2 con, họ thay đổi chính sách thực hiện KHHGĐ, khiến mức sinh đã tăng trở lại lên 3,5 con. Điều này dẫn tới vào những năm đầu thập kỷ 90, Việt Nam học tập chương trình KHHGĐ của Indonesia, nhưng hơn 10 năm sau Indonesia lại phải sang học tập kinh nghiệm thực hiện KHHGĐ ở Việt Nam.

 

 

TS Nguyễn Quốc Anh.

 

“Từ quan điểm nhân khẩu học kinh tế, tôi cho rằng nếu nới lỏng ngay mức sinh trong chương trình KHHGĐ, tỷ lệ sinh Việt Nam sẽ tăng trở lại, kịch bản bùng nổ dân số những năm sau khi ban hành Pháp lệnh Dân số 2003 sẽ lại xảy ra và có thể trầm trọng hơn. Dân số là mẫu số của phát triển KT-XH. Chất lượng sống không thể tăng lên nếu chúng ta để mẫu số “tăng lên”, trong khi tử số là phát triển KT-XH không tăng tương xứng. Hơn nữa, các nhà kinh tế đã tính toán, nếu tỷ lệ tăng dân số là 1% để duy trì mức sống như hiện tại thì mức tăng trưởng kinh tế phải là 4%. Như vậy, muốn nâng cao đời sống nếu mẫu số tăng 1% thì tử số cần tăng trên 4%”. 

TS Nguyễn Quốc Anh

Nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu- Thông tin và Dữ liệu (Tổng cục DS-KHHGĐ)

Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé 13 tuổi tình cờ phát hiện ung thư tuyến giáp di căn từ 1 dấu hiệu nhiều người Việt mắc phải

Bé 13 tuổi tình cờ phát hiện ung thư tuyến giáp di căn từ 1 dấu hiệu nhiều người Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 2 giờ trước

GĐXH - Trường hợp bé 13 tuổi phát hiện ung thư tuyến giáp vì đau họng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về ung thư tuyến giáp ở trẻ em thừa cân, béo phì.

Sinh con trước tuổi 35: Bác sĩ chỉ rõ thời điểm 'vàng' sinh con giúp mẹ khỏe, con phát triển tốt

Sinh con trước tuổi 35: Bác sĩ chỉ rõ thời điểm 'vàng' sinh con giúp mẹ khỏe, con phát triển tốt

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Chuyên gia chỉ ra "thời điểm vàng" sinh con trước tuổi 35. Việc lựa chọn thời điểm sinh có liên quan trực tiếp đến sức khỏe sinh sản, chất lượng dân số và tương lai của thế hệ sau.

Quảng Ninh quán triệt Luật Dân số, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác dân số

Quảng Ninh quán triệt Luật Dân số, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác dân số

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

Nhằm nâng cao nhận thức và thống nhất triển khai Luật Dân số trong tình hình mới, Chi cục Dân số tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội nghị quán triệt và cung cấp thông tin dân số – phát triển năm 2026.

Từ ca sinh con ở tuổi 60: Bác sĩ khuyến cáo vì sao nên sinh con trước tuổi 35?

Từ ca sinh con ở tuổi 60: Bác sĩ khuyến cáo vì sao nên sinh con trước tuổi 35?

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Trường hợp sản phụ sinh con ở tuổi 60 đã gióng lên cảnh báo về những rủi ro khi mang thai ở tuổi lớn. Các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ nên sinh con trước 35 tuổi để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Sản phụ 29 tuổi vỡ tử cung trong đêm thừa nhận 1 sai lầm nhiều phụ nữ Việt mắc phải

Sản phụ 29 tuổi vỡ tử cung trong đêm thừa nhận 1 sai lầm nhiều phụ nữ Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Sản phụ bị vỡ tử cung trong đêm có tiền sử sản phụ khoa phức tạp, nhưng trong thai kỳ hiện tại đã không khám thai định kỳ theo khuyến cáo.

5 cách giúp phụ nữ làm chủ cơn bốc hỏa thời kỳ mãn kinh

5 cách giúp phụ nữ làm chủ cơn bốc hỏa thời kỳ mãn kinh

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

Cơn bốc hỏa là 'nỗi ám ảnh' của phụ nữ mãn kinh, gây bào mòn sức khỏe và tâm lý. Việc thấu hiểu cơ chế cùng các liệu pháp từ lối sống đến y khoa sẽ giúp phụ nữ tìm lại sự cân bằng, tự tin bước qua giai đoạn này một cách nhẹ nhàng hơn.

Viêm nhiễm vùng kín 5 tháng không khỏi, bé gái 10 tuổi phát hiện nguyên nhân ít ai ngờ

Viêm nhiễm vùng kín 5 tháng không khỏi, bé gái 10 tuổi phát hiện nguyên nhân ít ai ngờ

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Ra dịch vàng vùng kín suốt nhiều tháng nhưng điều trị không khỏi, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, các bác sĩ phát hiện nguyên nhân bất ngờ là dị vật nằm sâu trong âm đạo.

Thai ngoài tử cung: Người phụ nữ 23 tuổi phát hiện muộn, suýt gặp biến chứng nguy hiểm

Thai ngoài tử cung: Người phụ nữ 23 tuổi phát hiện muộn, suýt gặp biến chứng nguy hiểm

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Chậm kinh hơn một tuần kèm ra huyết âm đạo, một phụ nữ 23 tuổi đi khám mới phát hiện mang thai ngoài tử cung trong tình trạng có nguy cơ vỡ.

Mắc bệnh thủy đậu khi mang thai, thai phụ đối mặt nguy cơ gì?

Mắc bệnh thủy đậu khi mang thai, thai phụ đối mặt nguy cơ gì?

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Bệnh thủy đậu tưởng chừng “lành tính” này có thể trở thành mối đe dọa nghiêm trọng với phụ nữ mang thai nếu không được phòng ngừa và xử trí kịp thời.

Nữ bệnh nhân 31 tuổi thoát nguy cơ cắt tử cung nhờ một quyết định quan trọng của bác sĩ

Nữ bệnh nhân 31 tuổi thoát nguy cơ cắt tử cung nhờ một quyết định quan trọng của bác sĩ

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Từng được khuyến cáo mổ mở, thậm chí cắt tử cung do mắc u xơ tử cung, người bệnh được phẫu thuật nội soi thành công, bảo tồn khả năng sinh sản.

Top