Trả lời: Việc tìm hiểu về các BPTT là một điều cần thiết khi các bạn bước vào lứa tuổi dậy thì. Nó không chỉ cung cấp thêm các thông tin về sức khỏe sinh sản, giới tính mà còn giúp các bạn có cái nhìn đúng đắn và tự bảo vệ cho chính bản thân mình. Các BPTT được chia thành 2 nhóm: BPTT hiện đại và BPTT truyền thống. Các BPTT hiện đại là an toàn nhất và hiệu quả tránh thai cao nhất (98% - 99%). 1. Các BPTT hiện đại được chia thành hai nhóm: lâm sàng và phi lâm sàng.
- BPTT lâm sàng là những BPTT thường do các cơ sở y tế cung cấp và có sự can thiệp hoặc giúp đỡ của cán bộ y tế như biện pháp đặt dụng cụ tử cung, triệt sản nữ, triệt sản nam, tiêm tránh thai, cấy tránh thai.
- BPTT phi lâm sàng là những BPTT không bắt buộc phải có sự can thiệp của cán bộ y tế như biện pháp sử dụng bao cao su, viên uống tránh thai liều thấp kết hợp, viên uống tránh thai đơn thuần hay viên uống tránh thai khẩn cấp.
2. Các BPTT truyền thống (hay BPTT tự nhiên) là những BPTT không cần dùng dụng cụ, thuốc men hay thủ thuật nào của cán bộ y tế để ngăn cản thụ tinh. Đây là những BPTT tạm thời và ít hiệu quả bao gồm: (i) biện pháp tính ngày rụng trứng, (ii) biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo và (iii) Cho con bú vô kinh. Các biện pháp tránh thai truyền thống không nên khuyến cáo cho khách hàng sẽ có nguy cơ cao khi mang thai. Khách hàng có nhiễm HIV hay bạn tình có nhiễm HIV cần cân nhắc khi sử dụng BPTT truyền thống vì BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.
Trả lời: - Dụng cụ tử cung là dụng cụ tránh thai đặt trong buồng tử cung (dạ con) của người phụ nữ, có tên thường gọi là "vòng tránh thai", là một BPTT tạm thời, có hiệu quả cao, tới 97 - 98%, sử dụng một lần nhưng có tác dụng tránh thai nhiều năm. Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng DCTC nhưng BPTT này không giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. - Cơ chế tác dụng của DCTC: Ngăn không cho noãn thụ tinh với tinh trùng hoặc làm cho noãn đã thụ tinh không làm tổ được trong buồng tử cung.
Trả lời: Hiện nay ở Việt Nam có hai loại dụng cụ tử cung phổ biến sau đây: - DCTC chứa đồng (TCu-380A và MultiloadCu-375SL) được làm từ một thân plastic với các vòng đồng hoặc dây đồng. DCTC TCu-380A có tác dụng tránh thai trong 10 năm kể từ khi đặt. - DCTC giải phóng levonorgestrel có một thân chữ T bằng polyethylen chứa 52 mg levonorgestrel, giải phóng 20 μg hoạt chất/ngày. DCTC giải phóng levonorgestrel có tác dụng tối đa 5 năm kể từ khi đặt. Như vậy sự khác biệt chủ yếu của hai loại DCTC này là ở hình dạng, lượng đồng (Cu) chứa trên dụng cụ tử cung và thời gian tác dụng. DCTC Multiload 375SL và TCu380A TCu380A đặt trong tử cung.
Trả lời: 1. Đối với khách hàng chưa sử dụng BPTT nào:
- Đặt DCTC bất kỳ lúc nào trong vòng 12 ngày từ ngày đầu của kỳ kinh đối với DCTC chứa đồng. Đặt DCTC trong vòng 7 ngày đầu kể từ ngày hành kinh đầu tiên đối với DCTC giải phóng levonorgestrel.
- Đặt DCTC bất cứ thời điểm nào nếu biết chắc là không có thai. Không cần sử dụng BPTT hỗ trợ nào khác đối với DCTC chứa đồng. Nếu đã quá 7 ngày từ khi bắt đầu hành kinh cần tránh giao hợp hoặc sử dụng thêm BPTT hỗ trợ trong 7 ngày kế tiếp đối với DCTC giải phóng levonorgestrel.
- Sau đẻ (kể cả sau mổ lấy thai) và cho con bú:
Sau đẻ 4 tuần trở đi, chưa có kinh: đặt DCTC bất kỳ lúc nào, nếu biết chắc là không có thai.
Sau đẻ 4 tuần trở đi, đã có kinh trở lại: đặt DCTC như trường hợp hành kinh bình thường.
- Sau phá thai (3 tháng đầu và 3 tháng giữa): đặt DCTC ngay sau khi phá thai, ngoại trừ nhiễm khuẩn sau phá thai.
2. Đối với khách hàng đang sử dụng 1 BPTT khác, trước khi ngừng sử dụng BPTT đó:
- Đặt DCTC ngay lập tức, nếu chắc chắn không có thai.
- Đối với DCTC giải phóng levonorgestrel: Đặt DCTC trong vòng 7 ngày đầu kể từ ngày hành kinh đầu tiên: không cần sử dụng BPTT hỗ trợ. Nếu đặt DCTC quá 7 ngày kể từ ngày hành kinh đầu tiên: cần tránh giao hợp hoặc sử dụng thêm BPTT hỗ trợ trong 7 ngày kế tiếp.
- Nếu chuyển đổi từ thuốc tiêm: Đặt DCTC tại thời điểm hẹn tiêm mũi tiếp theo, không cần sử dụng BPTT hỗ trợ.
- Đặt DCTC để tránh thai khẩn cấp: Sau khi giao hợp không được bảo vệ, có thể đặt DCTC để tránh thai khẩn cấp.
Đối với DCTC chứa đồng: Đặt DCTC trong vòng 5 ngày sau cuộc giao hợp không được bảo vệ, nếu ước tính được ngày phóng noãn có thể đặt muộn hơn 5 ngày sau giao hợp không bảo vệ nhưng không quá 5 ngày kể từ ngày phóng noãn. DCTC chứa đồng không được sử dụng tránh thai khẩn cấp cho trường hợp bị hiếp dâm và có nguy cơ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao.
Nếu biết chắc ngày rụng trứng, đặt DCTC để tránh thai khẩn cấp có thể được thực hiện trong vòng 5 ngày sau rụng trứng, tức có thể muộn hơn 5 ngày sau giao hợp không được bảo vệ.
Đối với DCTC giải phóng levonorgestrel không được khuyến cáo sử dụng cho tránh thai khẩn cấp.
Đối tượng sau khi đặt DCTC cần phải:
- Nằm nghỉ ngơi tại chỗ ít nhất 1 giờ, làm việc nhẹ và kiêng giao hợp 1 tuần.
- Dùng thuốc được cấp theo lời dặn của cán bộ Y tế.
- Nếu thấy một trong các dấu hiệu sau: Chậm kinh, đau bụng dưới khi giao hợp, sốt và ra khí hư, hôi, tự kiểm tra không thấy dây vòng thì phải đến ngay cơ sở y tế để khám và kiểm tra.
Trả lời: DCTC được đặt cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ muốn áp dụng một BPTT tạm thời, dài hạn, hiệu quả cao và không có chống chỉ định hoặc phụ nữ muốn tránh thai khẩn cấp (chỉ đối với DCTC chứa đồng). Nhưng một số trường hợp sau đây cần tránh:
Tuyệt đối (Nguy cơ đối với sức khỏe quá cao, không sử dụng được):
- Có thai hay nghi ngờ có thai.
- Nhiễm khuẩn hậu sản, ngay sau sẩy thai nhiễm khuẩn.
- Ra máu âm đạo chưa rõ nguyên nhân.
- Ung thư cổ tử cung, ung thư niêm mạc tử cung;
- U xơ tử cung hoặc các dị dạng khác làm biến dạng buồng tử cung;
- Đang viêm tiểu khung;
- Đang viêm mủ cổ tử cung hoặc nhiễm Chlamydia, lậu cầu;
- Lao vùng chậu; - Đang bị ung thư vú (chỉ đối với DCTC giải phóng levonorgestrel).
Tương đối (Nguy cơ tiềm ẩn cao hơn so với lợi ích thu nhận, nhưng có thể áp dụng nếu không có hoặc không sử dụng được BPTT khác):
- Trong vòng 48 giờ sau sinh (đối với DCTC giải phóng levonorgestrel);
- Sau sinh (kể cả sinh mổ): 48 giờ đến 4 tuần đầu;
- Bệnh nguyên bào nuôi lành tính;
- Đã từng ung thư vú và không có biểu hiện tái phát trong 5 năm trở lại (chỉ với DCTC giải phóng levonorgestrel), hoặc bị ung thư buồng trứng. Có nguy cơ cao nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục;
- Bệnh AIDS có tình trạng lâm sàng không ổn định;
- Đang bị thuyên tắc mạch (với DCTC giải phóng levonorgestrel);
- Đang hoặc đã bị thiếu máu cơ tim, chứng đau nửa đầu nặng (với DCTC giải phóng levonorgestrel), hoặc đang bị xơ gan mất bù có giảm chức năng gan trầm trọng, hoặc u gan (chỉ với DCTC giải phóng levonorgestrel).
B.T