Đề án 1816 về buôn làng
Thực hiện “Đề án luân phiên cử cán bộ y tế từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” (Đề án 1816), trung bình mỗi năm, Trung tâm Phòng, chống bệnh xã hội tỉnh Đăk Nông tiếp nhận từ 3-5 đoàn bác sĩ tuyến trên về chuyển giao công nghệ và hỗ trợ chuyên môn.
Qua các đợt hỗ trợ chuyên môn, toàn tỉnh Đăk Nông đã có hàng trăm lượt cán bộ y tế được tập huấn, hướng dẫn về những kiến thức, kỹ thuật cơ bản trong công tác khám, sàng lọc và phát hiện bệnh nhân phong, tâm thần, đục thủy tinh thể... tại cộng đồng.
![]() Qua Đề án 1816, ngành y tế Đăk Nông đã tăng cường năng lực cho y tế cơ sở. |
Vừa chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn chuyên môn, đội ngũ y, bác sĩ còn phối hợp với Trung tâm tổ chức nhiều đợt khám, phát hiện bệnh nhân tại cộng đồng. Nhờ đó, trong 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh Đăk Nông đã phát hiện hơn 260 bệnh nhân tâm thần mới, 170 bệnh nhân mắc bệnh đục thủy tinh thể và gần 130.000 lượt người được khám phát hiện bệnh phong. Bên cạnh đó, các bác sĩ còn trực tiếp phẫu thuật thay thủy tinh thể cho 103 bệnh nhân, mổ mộng mắt cho hơn 100 bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân mắc bệnh tâm thần, các cán bộ y tế đã tiến hành sàng lọc bằng test tâm lý và cấp phát thuốc điều trị.
Nhận xét về tính thực tiễn của Đề án 1816, Trung tâm Phòng, chống bệnh xã hội tỉnh Đăk Nông cho rằng việc thực hiện Đề án 1816 đã nhận được sự đồng tình, hưởng ứng tích cực của đội ngũ y, bác sỹ từ tuyến tỉnh đến cơ sở. Sau một thời gian được chuyển giao kỹ thuật cũng như chia sẻ kinh nghiệm trong công tác chuyên môn, hoạt động khám, chữa bệnh của đội ngũ y, bác sĩ tại Trung tâm đã có những chuyển biến tích cực. Trung tâm đã bước đầu phẫu thuật thành công cho những trường hợp mắc bệnh về mắt, cũng như đưa một số thiết bị y tế hiện đại vào khám, chữa bệnh. Riêng trong công tác phòng, chống bệnh phong, nhờ được sự hỗ trợ từ Bệnh viện Phong-Da liễu TW Quy Hòa mà các chỉ số dịch tễ của bệnh trên địa bàn Đăk Nông đã giảm đáng kể. Tỷ lệ lưu hành bệnh giảm từ 0,9 người/10.000 dân (năm 2005) xuống còn 0,09 người/10.000 dân (năm 2008) và đến năm 2009 chỉ còn khoảng 0,05 người/10.000 dân. Về mặt xã hội, Đề án 1816 đã tạo điều kiện cho người dân được khám, phát hiện bệnh ngay tại nơi cư trú và được tiếp cận với những dịch vụ y tế có chất lượng cao, tiết kiệm được chi phí và thời gian.
Đi vào thực chất
Tuy nhiên, theo Trung tâm Phòng, chống bệnh xã hội thì sau một thời gian thực hiện đề án, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Trong đó, khó khăn lớn nhất là thiếu nguồn nhân lực để tiếp cận kỹ thuật từ tuyến trên. Đặc biệt, tại tuyến cơ sở, các cán bộ y tế thường phải kiêm nhiệm nhiều chương trình và thường xuyên có sự thay đổi, nên đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của đề án. Bên cạnh đó, việc thiếu thốn trang thiết bị, máy móc phục vụ công tác khám, chữa bệnh, nhất là ở tuyến huyện và xã cũng là nguyên nhân làm cho hiệu quả của đề án chưa được như mong muốn.
