Giải pháp cụ thể của Vĩnh Phúc để duy trì mức sinh thay thế nhằm đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực
GiadinhNet - Để điều chỉnh mức sinh của tỉnh Vĩnh Phúc về mức sinh thay thế, góp phần ổn định quy mô dân số, tỉnh đã đưa ra nhiều giải pháp quan trọng, phù hợp với các địa phương.
Vĩnh Phúc là một trong nhiều địa phương trên cả nước có mức sinh chênh lệch giữa các vùng

Cán bộ dân số-kế hoạch hóa gia đình tuyên truyền chính sách dân số tới người dân
Theo số liệu từ Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, toàn tỉnh hiện có gần 1,2 triệu người, tỷ suất sinh thô giảm còn 15.4%; hơn 64% tổng dân số có độ tuổi từ 15 đến 64 tuổi và gần 28% tổng dân số có độ tuổi dưới 15 tuổi. Mức sinh ở tỉnh hiện nay có sự chênh lệch đáng kể giữa các huyện, thành phố và chia thành 2 nhóm: Nhóm các huyện, thành phố có tỷ suất sinh thô tăng hoặc ổn định ở mức cao và nhóm các huyện, thành phố có mức sinh thấp, liên tục giảm. Trong đó, nhóm các huyện có tỷ suất sinh thô tăng hoặc ổn định ở mức cao như Tam Dương (18,6%), Lập Thạch (17,8%), Sông Lô (17,7%), Yên Lạc (18,6%), Vĩnh Tường (16,3%), Tam Đảo (16,5%); nhóm các huyện, thành phố có mức sinh thấp, liên tục giảm là Vĩnh Yên (12,9%), Phúc Yên (13,4%), Bình Xuyên (15,4%).
Những con số trên cho thấy, mức sinh ở khu vực nông thôn cao hơn mức sinh ở khu vực thành thị; xu hướng mức sinh tăng cao trở lại sau khi đạt mức thay thế xuất hiện ngày càng nhiều. Mức sinh ở tỉnh hiện nay có sự chênh lệch đáng kể giữa các huyện, thành phố và chia thành 2 nhóm: Nhóm các huyện, thành phố có tỷ suất sinh thô tăng hoặc ổn định ở mức cao và nhóm các huyện, thành phố có mức sinh thấp, liên tục giảm.
Chi cục trưởng Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Vĩnh Phúc Nguyễn Hoài Nam cho biết: "Mức sinh tăng cao hay giảm thấp đều ảnh hưởng đến quy mô dân số, chất lượng dân số và sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Mức sinh cao sẽ ảnh hưởng đến việc cải thiện đời sống nhân dân, phát triển thể lực giống nòi... Mức sinh thấp và duy trì trong một thời gian dài sẽ dẫn đến ít trẻ em được sinh ra, dân số già hóa nhanh, gây suy giảm dân số, thiếu hụt nguồn nhân lực. Do đó, cần duy trì mức sinh thay thế, giữ vững mức sinh đồng đều giữa các vùng, khu vực".
Giải pháp của Vĩnh Phúc để duy trì mức sinh thay thế, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực
Để duy trì mức sinh thay thế, tỉnh đã và đang thực hiện nhiều giải pháp hữu hiệu, phù hợp với từng địa phương, đơn vị. Trong đó, chú trọng tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền về công tác dân số; thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo toàn dân thực hiện cuộc vận động mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng "Dừng lại ở hai con để nuôi, dạy cho tốt"; bảo đảm sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện đúng chính sách dân số.
Kế hoạch đề ra mục tiêu cụ thể, giảm tối thiểu 10% tổng tỷ suất sinh ở các huyện có mức sinh cao; tăng tối thiểu 5% tổng tỷ suất sinh ở các huyện có mức sinh thấp; đến năm 2030, số con trung bình trên một bà mẹ là 2,1 con.
Thực hiện Quyết định số 588 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp giữa các vùng, đối tượng đến năm 2030 và Nghị quyết số 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, mới đây, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời, tích cực đẩy mạnh, đổi mới tuyên truyền nhằm thay đổi hành vi của người dân; xây dựng chuyên trang, chuyên mục trên các báo, tạp chí của tỉnh; biên soạn và phát hành các ấn phẩm truyền thông, tư vấn, vận động giảm sinh để tiến tới đạt mức sinh thay thế. Cùng với đó, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường phù hợp từng cấp học, lứa tuổi; thí điểm triển khai, mở rộng thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc trước khi kết hôn đối với thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn. Các ngành chức năng cần tiếp tục rà soát đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung, mở rộng đối tượng được thụ hưởng hỗ trợ khi sinh con đúng chính sách dân số.
Phấn đấu đến năm 2030, toàn tỉnh duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,2 con); quy mô dân số đạt 1,4 triệu người; tỷ số giới tính khi sinh giảm còn 109 bé trai/100 bé gái; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỷ lệ người trong độ tuổi lao động là 67%. Đồng thời, giảm tối thiểu 10% tổng tỷ suất sinh ở các huyện có mức sinh cao; tăng tối thiểu 5% tổng tỷ suất sinh ở các huyện có mức sinh thấp.