Hồi ức mối tình đầu sau 60 năm
GiadinhNet - Việc tìm được hài cốt của các anh là niềm hạnh phúc vô bờ đối với các cựu chiến binh, gia đình các anh. Cũng từ đây đã hé lộ một câu chuyện tình thời chiến đẹp như cổ tích.
![]() |
|
Liệt sĩ Khăm Nhọt (tức Phạm Ngọc Bân - người đứng thứ 4 hàng sau cùng) tại chiến trường Lào năm xưa. Ảnh: TL. |
Các anh hy sinh năm 1952, khi tuổi đời còn rất trẻ. Việc tìm được hài cốt của các anh là niềm hạnh phúc vô bờ đối với các cựu chiến binh, gia đình các anh. Cũng từ đây đã hé lộ một câu chuyện tình thời chiến đẹp như cổ tích.
Giấc mơ kỳ lạ không thể lý giải!
Chuyến đi này do cựu chiến binh Nguyễn Văn Khuông làm Trưởng đoàn. 91 tuổi nhưng cụ Khuông rất minh mẫn, dẻo dai trên suốt chặng đường lên Sơn La rồi sang Lào. Sau khi đưa 2 liệt sĩ về truy điệu ở Việt Nam, cụ Nguyễn Văn Khuông đã có giấc mơ rất kỳ lạ. Chính giấc mơ này đã giúp cụ và đồng đội tìm được người nhà của liệt sĩ Khăm Nhọt. Không thể ngờ sau 60 năm hòa vào cát bụi, linh hồn liệt sĩ vẫn dõi theo người vợ của mình.
Cụ Nguyễn Văn Khuông vốn là lính Tây Tiến năm xưa, từng hoạt động ở vùng rừng thiêng nước độc Tây Bắc- Thượng Lào. Cụ vốn không tin vào những lời đồn thổi, thêu dệt về "thế giới bên kia". Nhưng sau chuyến đi tìm mộ liệt sĩ trên đất Thượng Lào trở về, cụ đã nằm mơ- một giấc mơ lạ kỳ. Và sự thật của nó khiến cụ phải... tin.
Cụ kể: Khi tìm ra và đưa hai hài cốt liệt sĩ về, dân bản Phiêng Sa (tỉnh Hủa Phăn- Lào)- nơi 2 liệt sỹ hy sinh và Đội tìm kiếm mới chỉ biết tên liệt sỹ Nguyễn Tín. Còn liệt sĩ thứ hai, mọi người chỉ biết tên Lào của anh là Khăm Nhọt. Còn tên Việt là gì, quê quán anh ở đâu thì không ai biết?! Dường như lòng thành của đồng đội đã cảm cả trời xanh, khiến người đã khuất "trở về". Đêm thứ hai sau khi tìm được mộ về, cụ Khuông đang chìm trong giấc ngủ, bỗng cụ nghe có tiếng nói bên tai: "Đồng chí Khuông ơi! Tớ cảm ơn cậu đã đưa tớ về với đất Mẹ. Cậu đừng băn khoăn, cứ tìm gặp em Sầm thì sẽ biết tên thật và quê của tớ...".
![]() |
|
Những bức thư chứa đầy kỷ niệm của bà Nguyễn Thị Sầm. Ảnh: TL. |
Chuyện tình bi thương "sống để dạ, thác mang theo"
"Em Sầm"giờ đã là một cụ bà 80 tuổi, sống ở Hòa Bình. Cụ bị ốm nặng, đang phải nằm bệnh viện tỉnh. Cụ rất ngạc nhiên khi thấy một Đoàn cựu chiến binh lặn lội đến tìm mình. Khi được nghe kể đầu đuôi câu chuyện, cô giao liên năm xưa xúc động gần như lả đi! Và câu chuyện tình "sống để dạ, thác mang theo" 60 năm qua thức dậy.
Từ lúc biết chuyện tìm được mộ liệt sĩ Khăm Nhọt, cụ Nguyễn Thị Sầm khỏe mạnh trở lại. 80 tuổi, cụ rất đẹp lão, nói năng rành rọt. Cụ kể: Liệt sĩ Khăm Nhọt tên thật là Phạm Ngọc Bân quê ở Kim Động- Khoái Châu- Hưng Yên. Hơn 60 năm qua cụ Sầm đã ngậm ngùi ôm chặt mối tình đầu trong lòng, không cho chồng con biết. Cụ vẫn âm thầm theo dõi trên báo, đài, tivi, rồi chương trình "Nhắn tìm đồng đội" nhưng không hề nghe ai nhắc đến liệt sỹ có tên Phạm Ngọc Bân, cũng không biết tin tức anh em, họ hàng của liệt sỹ Bân ở đâu?
![]() |
|
Bức ảnh tư liệu quý giá tại chiến trường Lào được các đồng đội liệt sĩ Phạm Ngọc Bân lưu giữ đến bây giờ. Ảnh: TL |
|
Liệt sĩ Phạm Ngọc Bân (bí danh Khăm Nhọt) quê ở xã Kim Động, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Anh có người anh trai tên là Phạm Ngọc Liệu, trước kia làm giao thông công chính, con trai anh Liệu là Phạm Ngọc Bảo. Nhóm cựu chiến binh đã tìm về tận quê anh, được Phòng LĐ,TB&XH nhiệt tình giúp đỡ, nhưng vẫn chưa tìm được gia đình liệt sĩ. Độc giả nào biết về gia đình anh Phạm Ngọc Bân, có người thân Phạm Ngọc Liệu, Phạm Ngọc Bảo trong những năm chiến tranh chống Pháp đã ở xã Kim Động, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, hãy cung cấp thông tin để đưa hài cốt liệt sĩ trở về quê hương. Liên hệ với ông Nguyễn Đức Mai theo số ĐT: 0985 104 960. |
"Tôi sinh ra tại Mường Ét (Xiềng Khọ- tỉnh Sầm Nưa- Hủa Phăn- Lào). Cha tôi là người Việt, mẹ là người Lào. Nhà tôi có ba người con, dưới tôi còn hai em trai nữa. Khi chiến tranh bùng nổ, nhiều gia đình Việt kiều từ Mường Ét trở về Việt Nam. Tôi được về quê cha ở Hải Dương, học hết lớp 4 và đỗ "sơ học yếu lược". Đầu năm 1945, cha tôi bị ốm và mất, tôi phải thôi học. Năm đó quân Tầu Ô, Nhật Pháp lũng đoạn nước ta, bốn mẹ con tôi tản cư về huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Chúng tôi mượn đất dựng túp lều cạnh đường cái, bên sông Thao, sống lần hồi bằng tiền vàng dành dụm của những năm làm ăn về trước.
Một chiều mùa đông năm 1947, có đoàn bộ đội ghé nghỉ chân, xin nước uống. Mẹ giục tôi lấy nước bằng tiếng Lào, nghe vậy một anh hỏi: "Bà là người Việt Nam sao lại biết tiếng Lào?". Mẹ tôi thong thả đáp:"Tôi là người Lào Mường Ét, chồng tôi là người Việt Nam ở tỉnh Hải Dương. Bây giờ đâu đâu cũng bị Pháp chiếm đóng, cuộc sống khó khăn quá, đành ở tạm đây". Đông Tùng - tên anh Trưởng đoàn sau khi tìm hiểu gia cảnh nhà tôi, nói: "Bà có cho cô bé đi công tác cùng chúng tôi không? Chúng tôi đang cần người biết tiếng Lào.". Mẹ tôi đáp liền: "Cháu mới 16 tuổi, bé nhỏ lại là con gái, tôi không cho cháu đi đâu." Anh Đông Tùng nói: "Xin đảm bảo với bà, chúng tôi sẽ chăm lo cho cô bé như con em của mình. Sang đó cô ấy có thể liên lạc với họ hàng ở Mường Ét thì càng tốt". Mẹ đắn đo mãi, rồi hỏi tôi: "Các anh ấy nói thế, con có đi không?". Tôi sợ hãi nói: "Con không dám đi đâu".
![]() |
|
Bà Nguyễn Thị Sầm (người mặc áo dài tím) trong một lần vinh dự được gặp Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan. |
Cuộc hành trình theo các anh thật là gian khổ, cơ cực. Đường tắt đi qua những cánh rừng rậm không dấu chân người, nào gai góc, nào muỗi vắt, nào cỏ gianh cao quá đầu người... Các anh bảo: "Chịu khó nhé cô em, nếu ta đi đường thẳng thì gần hơn, nhưng lại dễ chạm trán địch". Chốc chốc các anh lại động viên: "Sắp đến địa điểm rồi". Sau nhiều ngày đi ròng rã chúng tôi đã đến căn cứ tại Bắc Lào.
Tôi được đặt một cái tên Lào là Nang Bun Su, làm giao liên tới các tổ nằm vùng trong những hang đá, nương ngô... của người Mông, người Xá, người Puộc. Ngày đầu tiên có người dẫn đường, sau đó tôi phải đi một mình. Tôi mặc váy áo Lào, búi tóc Lào, công văn giấy tờ giấu trong ống cơm lam đi "nắm trung kiên" từng bản (nắm những người trung thành với cách mạng). Khi đó đồng bào rất thiếu muối ăn, tôi dân vận bằng muối trắng, nói với đồng bào khi nào trong bản có người lạ thì giắt cành cây ở đầu bản, chúng tôi sẽ không vào. Hàng ngày, dân góp gạo góp rau nuôi cán bộ, chỉ việc bỏ vào hang đá, tôi lại mang về cho đồng đội. Tôi thường xuyên đi một mình xuống các vùng Xe Lép, Lao Măng, Phiêng Sa, Lao Xung... đưa thư từ công văn cho các cán bộ nằm vùng trong những hang đá hiểm trở. Sau mở rộng địa bàn sang bên kia sông, tới vùng Mường Lọng, Xiềng Khọ, Sốp San, Mường Ét. Vượt qua bao thử thách, tôi đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
![]() |
|
Ông Nguyễn Văn Khuông (người ngoài cùng bên trái) trong lễ bốc mộ liệt sĩ Khăm Nhọt. Ảnh: Đức Mai |
Đầu năm 1952, tôi được lệnh triệu tập đi học tập chính trị (tức "chỉnh huấn"). Học xong tôi xin về thăm mẹ ở Xuân Đài (Phú Thọ). Chia tay nhau, anh Bân dặn: "Em về thăm mẹ khoảng 5 ngày thôi nhé. Trở lại phân khu sẽ có người đón em lên theo đoàn."
Về nhà, tôi thấy mẹ đang ốm. Em thứ hai đã làm việc ở Văn phòng Tỉnh ủy Sơn La, còn em bé mới 8 tuổi. Hết 5 ngày phép, tôi trở lại phân khu thì nhận được tin sét đánh: Anh Bân đã hy sinh. Tôi không ngờ buổi chia tay cũng là ngày tôi mất anh vĩnh viễn. Mọi người hết sức thương cảm và an ủi tôi. Các anh bảo tôi ở lại Phân khu làm hành chính, không lên Thượng Lào nữa, nguy hiểm lắm. Tôi không kìm được nước mắt chảy dài. Hôm tôi dứt áo ra đi, mẹ vẫn nằm trên giường bệnh, em thơ nước mắt lưng tròng nhìn chị như cầu cứu. Chỉ vì nghĩ đến công việc mà đi, ai ngờ chồng lại hy sinh, nhỡ mẹ cũng hấp hối thì sao? Tôi quay trở lại nhà. Đau đớn thay mẹ đã mất, nhà bị cháy, một cái bát ăn cơm cũng không còn... Tôi trở lại đời thường, mò cua bắt ốc nuôi em ăn học.
Nhưng cuộc sống chưa yên. Giặc Pháp bắn phá liên tục, ban ngày thì bom bi bom tấn, ban đêm thì pháo sáng trắng đường. Thù nhà nợ nước, tôi lại cùng chị em trong phố Xuân Đài đi dân công tải gạo phục vụ chiến dịch Điện Biên mỗi tháng một tuần. Năm 1954 giải phóng Điện Biên cũng là lúc tôi được cử vào UBND huyện Mộc Châu đánh máy chữ, hàng tháng có lương. Cuộc sống của chị em tôi cũng dần ổn định. Cuối năm 1955 tôi được chuyển sang ngành văn hóa, làm việc ở hiệu sách nhân dân huyện Mộc Châu. Rồi tôi được đề bạt làm Chủ nhiệm Quốc doanh phát hành sách báo toàn tỉnh Sơn La, tới 1986 thì về hưu. Tôi cũng đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ hai. Hai em tôi cũng đã trưởng thành và thành đạt. Chồng tôi là Trần Huy Khôi cũng đã về hưu, chúng tôi đã có cháu gọi bằng ông bà.
Thông báo




