Hôn nhân gia đình của người Brâu
Trong lễ cưới của người Brâu, nhà trai tổ chức hỏi vợ phải nộp lễ vật cho nhà gái, nhưng lễ cưới thì lại tổ chức ở nhà gái - nhà trai chi phí. Sau lễ kết hôn, chàng trai phải ở rể 4 -5 năm mới được đưa vợ về nhà mình.
Thanh niên nam nữ Brâu được tự do lấy vợ, lấy chồng. Nhà trai tổ chức hỏi vợ phải nộp lễ vật cho nhà gái. Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái song do nhà trai chi phí. Sau lễ kết hôn, tục ở rể kéo dài khoảng 4 -5 năm và tiếp đó là thời kỳ luân cư của đôi trai gái.
Xã hội Brâu đã phân hoá giàu nghèo ở giai đoạn ban đầu. Gia đình nhỏ phụ hệ đã được thiết lập, nam nữ bình quyền, tuy nhiên tàn tích của chế độ gia đình mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét.
Vài nét chính về dân tộc Brâu:
Tên tự gọi: Brâu.
Tên gọi khác: Brạo.
Dân số: 231 người.
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Cư trú: Tập trung ở làng đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Chiếc áo dệt bằng sợi cây rừng - một trang phục xa của người Brâu Phụ nữ Brâu thường ngày mặc váy, ở trần. Họ thích đeo những chuỗi cườm ở cổ, thõng xuống ngực; đeo vòng ở tay và đặc biệt đeo hoa tai bằng ngà voi hoặc lồ ô làm căng rộng lỗ ở dái tai. Ai cũng ngậm tẩu, hút thuốc luôn miệng. Người Brâu có các loại gùi khác nhau. Ðẹp nhất là kiểu gùi có hoa văn, có nắp đậy, thường dùng để cất đồ đạc quý trong nhà hoặc để đựng và vận chuyển thóc gạo. Người Brâu ở Kon Tum Người Brâu uống rượu cần Trống là nhạc cụ không thể thiếu trong các cuộc vui Nhạc cụ gõ (bằng đồng) của người Brâu Trong làng Ðắc Mế hiện nay, nhà ở đều là nhà trệt, thưng ván, lợp ngói... Kiểu nhà cổ truyền Brâu chỉ còn hiện hình ở ngôi nhà bếp; mà cũng rất ít thấy. Ðó là loại nhà sàn, mái lợp cỏ tranh, cửa ra vào ở mặt trước...







