Hôn nhân gia đình của người Chứt

Khi vợ sắp đến ngày ở cữ, người chồng thường dựng một cái lều nhỏ cho vợ ở ngoài rừng, thỉnh thoảng đến thăm nom, tiếp tế, còn lại phải để vợ tự xoay sở hết thảy mọi việc... Sau 7 ngày chồng mới đến đón vợ con vào nhà!

Trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu, yêu đương. Trước khi cưới, nhà trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ cưới được tổ chức bên nhà gái, sau đó mới đón dâu. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Người Chứt không có tục ở rể.

Quan hệ vợ chồng của người Chứt bền vững, hiếm xảy ra bất hòa.

Trong tục sinh đẻ, khi sắp đến ngày ở cữ, người chồng thường dựng một cái lều nhỏ cho vợ ở ngoài rừng. Thỉnh thoảng anh ta đến thăm nom, tiếp tế lương thực và đồ ăn uống cho vợ. Phụ nữ quen đẻ đứng và tự xoay sở lấy hết thảy mọi việc. Ðẻ xong, người sản phụ tự mình nhóm lửa, đốt nóng một hòn đá cuội để sẵn rồi dội nước lã vào cho bốc hơi nóng để xông khói. Sau 7 ngày, người chồng mới đến đón vợ con vào nhà!

Vài nét chính về dân tộc Chứt:

Tên tự gọi: Chứt.
Tên gọi khác: Rục, Sách, A rem, Mày, Mã liềng, Tu vang, Pa leng, Xe lang, Tơ hung, Cha cú, Tắc cực, U mo, Xá lá vàng.
Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.
Dân số: 2.427 người.
Ngôn ngữ: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).
Cư­ trú: Phần đông cư­ trú ở huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa (Quảng Bình).

Thiếu nữ Rục (Quảng Bình)

Người Chứt (nhóm Rục) có kỹ thuật trèo cây nổi tiếng để lấy mật ở các tổ ong trên cây cao. Họ leo thang bằng dây mây. Mỗi nấc thang là một vòng dây buộc vào thân cây, có chỗ đặt bàn chân. Leo đến đâu, buộc vòng thang đến đó.

Đánh cá dưới suối

Người Chứt (nhóm Rục) có kỹ thuật trèo cây nổi tiếng để lấy mật ở các tổ ong trên cây cao. Họ leo thang bằng dây mây. Mỗi nấc thang là một vòng dây buộc vào thân cây, có chỗ đặt bàn chân. Leo đến đâu, buộc vòng thang đến đó.

Trẻ em người Rục đã biết chữ

Nét nổi bật của ngôi nhà sàn người Chứt (nhóm Arem) là hai chiếc khau cút được bố trí ở hai đầu nóc nhà. Khau cút được làm từ hai đoạn cây lồ ô hoặc gỗ buộc chéo nhau tại thành một góc vuông. Nửa trên được vót nhọn, nửa dưới buộc vào rui của mái nhà. Khau cút chẳng những để giữ cho đầu mái nhà khỏi bị gió lật mà điều có ý nghĩa xã hội cơ bản đối với cư dân ở đây là: Dấu hiệu để nhận biết đồng tộc. Như vậy, Khau cút chẳng những là hiện tượng văn hoá phổ biến ở các cư dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me Thái mà còn cả ở một trong những cư dân Việt - Mường.

 
xahoi
Ý kiến của bạn

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.