Hôn nhân gia đình của người Cơ Tu
Nhà trai phải tốn của cải nộp cho nhà gái và tổ chức cưới. Việc lấy vợ phải trải qua các bước nghi thức: hỏi, đính hôn, lễ cưới và sau này, khi đã khá giả thường tổ chức thêm lễ cưới lần nữa!
Quan hệ hôn nhân một chiều: Nếu nhà A đã gả con gái cho nhà B thì nhà B không được gả con gái cho nhà A. Thậm chí, khi người họ này đã lấy vợ họ kia, thì người họ kia không được lấy vợ họ này, mà phải tìm ở họ khác.
Khi chồng chết, vợ có thể lấy anh em chồng, khi vợ chết, chồng có thể lấy em hay chị vợ. Việc kết hôn thường mang tính gả bán, và sau lễ cưới cô dâu đến ở nhà chồng. Chế độ một vợ một chồng phổ biến, nhưng cũng có một số người khá giả lấy hai vợ. Trước kia những người giàu thích tổ chức "cướp vợ".
Người phụ nữ đẻ trong chòi dựng sau nhà hoặc đẻ ngay cạnh bếp lửa trong nhà, có vài phụ nữ giúp. Cái nhau bỏ vào vỏ bầu hoặc gói bằng vải, lá chuối chôn ở phía sau nhà. Sau 3 - 4 ngày hoặc một tuần sản phụ có thể đi làm. Qua vài ba tháng mới đặt tên cho đứa bé.
Người Cơ Tu theo chế độ phụ hệ, con lấy họ theo cha, chỉ con trai mới được thừa hưởng gia tài. Mỗi dòng họ người Cơ Tu đều có tên gọi riêng, người trong họ phải kiêng cữ một điều nhất định. Có chuyện kể về lai lịch của dòng họ và sự kiêng cữ đó. Lúc sống, dòng họ có trách nhiệm cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau, khi chết được chôn cất bên nhau trong bãi mộ chung của làng.
Trước kia trong nhà của người Cơ Tu có nhiều cặp vợ chồng và con gái cùng sinh sống, thường là các gia đình của những anh em trai với nhau. Toàn bộ nhà ở trong làng dựng thành một vòng, quây quanh khoảng trống ở giữa. Mỗi làng có ngôi nhà chung gọi là Gươl, cao lớn và đẹp nhất. Ðó là nơi hội họp và sinh hoạt công cộng.
Vài nét chính về dân tộc Cơ Tu
Tên tự gọi: Cơ Tu.
Tên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu.
Dân số: 36.967 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru - Vân Kiều. Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975, trên cơ sở dùng chữ La-tinh để phiên âm, nhưng nay ít người sử dụng.
Cư trú: Cư trú tại các huyện Hiên, Giằng, (Quảng

Làng định cư của người Cơ Tu ở huyện Hiên

Học sinh Cơ Tu cùng bạn bè trong sinh hoạt
văn hóa cổ truyền

Gắn liền với việc giã gạo hàng ngày, phải có nia sảy.
Người Cơ Tu dùng loại nia hình lá dề, đan dẹp
và dùng bền, nhất là nia đan bằng mây.
Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Khổ vải có hoa văn bằng chì rất được ưa chuộng và đắt giá.
Trên khổ, hoa văn tập trung ở đoạn hai đoạn đầu dải vải,
đều là các đồ án hoa văn hình học.

Theo nếp xưa người Cơ Tu ở nhà sàn dài, mái uốn tròn tại
đầu hồi như một số tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me khác.
Mỗi ngôi nhà như tế gồm nhiều người thân thuộc ở chung,
mỗi cặp vợ chồng cùng các con mình tạo thành một "bếp",
có phần không gian riêng trong nhà.