Hôn nhân gia đình của người Gié-Triêng

Trẻ em trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông, khoảng 13-15 tuổi bắt đầu cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Trong lễ cưới, cô gái phải chuẩn bị đủ 100 bó củi để nộp cho nhà trai, còn các chàng trai muốn có vợ phải biết đan lát, biết tấu chiêng cồng...

Theo tục lệ cũ, trẻ em trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông, khoảng 13-15 tuổi thì cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con cái được cha mẹ tôn trọng.

Trư­ớc khi nên vợ, nên chồng, các chàng trai phải biết đan lát, biết tấu chiêng cồng, các cô gái phải thạo đan chiếu, dệt vải (ở những vùng có nghề dệt). Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn). Cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt.

Đôi vợ chồng mới c­ưới thường ở nhà cùng cha mẹ vợ khoảng 3-4 năm rồi chuyển sang ở nhà bố mẹ chồng 3-4 năm, cứ luân phiên như­ thế cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới định cư­ một chỗ.

Đến kỳ sinh đẻ của vợ, chồng phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau 10 ngày mới được mang con về nhà. Ðứa bé được coi là thành viên của gia đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho nó gia nhập vào cộng đồng những người thân thuộc trong nhà.

Mỗi người Gié Triêng (trừ nhóm Bnoong) đều có họ kèm theo tên, như­ng họ của đàn ông khác với họ của đàn bà. Mỗi họ đều có kiêng kỵ và một truyện cổ giải thích về tên họ và điều kiêng kỵ đó. Xư­a kia, con trai theo họ bố, con gái theo họ mẹ.

Vài nét chính về dân tộc Gié-Triêng

Tên tự gọi: Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như: Gié, Triêng, Ve, Bnoong.
Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy.
Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả.
Dân số: 26.924 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh.
Cư­ trú: Cư trú ở tỉnh Kon Tum và miền núi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.


Trang phục ngày hội của phụ nữ Gié-T
riêng


Vui được mùa


Một làng của người Gié-Triêng


Ống đựng bằng tre là vật dụng khá phổ biến trong các gia đình người Gié-Triêng. Phần thân hộp được vót bớt để lắp khít vào nắp. Những chỗ dễ vỡ được bó bằng mây tết bản rộng. Trong ảnh là ống đựng có 2 ngăn: một ngăn đựng vôi và một ngăn đựng thuốc lá, là vật dụng cá nhân.


Ðây là chiếc gùi 3 ngăn dành riêng cho đàn ông sử dụng khi đi rừng đi rẫy. Nó được đan bằng mây. Phía trên của dây đeo và phần miệng áp vào lưng người đeo có ốp thêm những miếng da con mang (hoẵng).

Chiếc gùi này cư dân nhóm Giẻ dùng để gùi lúa khi thu hoạch. Nó được đan bằng cật nứa. Nan tạo hoa văn có màu đen bóng do được hơ nhiều lần trong khói nhựa thông.
giang
Ý kiến của bạn

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.