Hôn nhân gia đình của người Kháng
Ngày xưa, việc lấy vợ, lấy chồng của người Kháng vừa tự do vừa phải qua nhiều nghi thức. Sau bốn năm đêm tìm hiểu và ngủ lại nhà người con gái, nếu đôi trai gái ưng ý nhau thì tiến hành ăn hỏi...
Sau lễ dạm hỏi thì đến lễ… xin ở rể và lễ cưới. Lễ cưới lần đầu được tổ chức cho chàng trai đi ở rể. Sau 3 năm ở rể, đôi vợ chồng trẻ phải làm lễ ra mắt hai họ, nhà trai mới tổ chức lễ cưới thứ hai và đưa dâu về nhà chồng để gây dựng gia đình riêng. Ðây là lễ quan trọng nhất.
Tiểu gia đình phụ quyền chiếm ưu thế trong bản. Bên cạnh đó cũng tồn tại một số tàn dư của chế độ mẫu hệ: tục ở rể, người cậu có vai trò đặc biệt trong việc dựng vợ gả chồng cho cháu... Trưởng họ vẫn có vai trò nhất định.
Vài nét chính về dân tộc Kháng
Tên tự gọi: Mơ Kháng.
Tên gọi khác: Háng, Brển, Xá.
Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi...
Dân số: 3.921 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Họ nói thạo tiếng Thái.
Cư trú: Sơn La và Lai Châu

Bắt đầu cuộc sống riêng

Trang phục cổ của người Kháng

Người Kháng cũng như nhiều dân tộc khác
ở Tây bắc, có thói quen dự trữ nước ăn
trong các ống bương. Gùi nước về nhà
trên chiếc gùi đeo bằng trán.
Ðan hòm mây là một nghề thủ công truyền
thống của người Kháng. Sản phẩm của
nghề này được ưa chuộng nên đã trở
thành mặt hàng phổ biến.