Hôn nhân gia đình của người Khơ Me

Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái...

Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Gia đình của người Khở Me thường là gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khơ Me vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khơ Me có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khơ Me như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ ít xảy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Vài nét chính về dân tộc Khơ Me:

Tên tự gọi: Người Khơ Me.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ me Krôm.
Dân số:
895.299 người, là dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me ở Việt Nam.
Ngôn ngữ:
Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Cư­ trú: Sống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang.

Trang phục thiếu nữ Khơ-me Nam Bộ Giã cốm đẹp

Đua ghe ngo trong ngày hội ở Sóc Trăng Tạo dáng đồ gốm
Chùa Khơ-me Nam Bộ Một nghi lễ tại chùa của người Khơ-me

xahoi
Ý kiến của bạn

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.