Người cựu binh 7 lần bước qua cõi chết
GiadinhNet - Những lần qua “cửa tử” của ông hầu hết đều gắn với thời binh lửa hào hùng.
![]() |
|
Lâu lâu Đại úy Lộc lại mang những tấm Huân chương ra lau chùi và kể lại chuyện chiến đấu cho con cháu. Ảnh: C.T |
Suýt tan xác vì mìn của ta
|
Sau 30 năm chiến đấu ông Lộc đã được Đảng, Nhà nước và đơn vị trao tặng nhiều Huân, Huy chương cao quý gồm: Danh hiệu Chiến sỹ Quyết thắng; Huân chương chiến công Hạng 3 và nhiều huân, huy chương khác. |
Trong căn nhà cổ hàng trăm năm, người cựu binh 86 tuổi đời, 63 tuổi Đảng đưa chúng tôi trở về với những kỷ niệm khó tin trong đời thường và đời lính. “Không dưới 7 lần tôi đã trở về từ cõi chết”, ông Lộc nói. Những lần qua “cửa tử” của ông hầu hết đều gắn với thời binh lửa hào hùng.
Đó là vào năm 1948, lúc này ông đã tham gia quân đội, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở bí mật ở huyện Gia Ninh (Quảng Bình). Hằng ngày, ông chỉ huy anh em du kích gài mìn tự động đánh địch trên các tuyến đường lớn. “Lúc đó, tôi đi xuống cơ sở để chỉ huy anh em gài mìn tại các địa điểm đã định sẵn. Khi biết tin tôi và một đồng chí khác đến kiểm tra thì anh em mới “tá hỏa” nói rằng tại vị trí chúng tôi đứng đã được gài mìn xong xuôi. Vậy là 2 chúng tôi đang đứng trên một trận địa mìn. Do đã nắm quá vững kỹ thuật nên chỉ trong chốc lát hai anh em đã bình tĩnh hóa giải được mấy quả mìn, gài lại và hóa trang, xóa dấu vết như cũ”, người Đại úy già nhớ lại.
Cũng vào khoảng năm 1948-1949, lúc này, nhiều vùng đã nằm trong sự kiểm soát của Pháp. Ông Lộc thuộc biên chế của Tiểu đoàn 274, Trung đoàn 18, có nhiệm vụ chính là xây dựng cơ sở trong lòng địch, từ xóm lên xã, huyện và tiến tới lập mạng lưới cơ sở trên toàn tỉnh Quảng Bình. Một trong những công việc là đào hầm bí mật ở những doi cát dọc quốc lộ 1. Chủ trương lúc bấy giờ là khi thấy địch yếu sẽ đánh, địch mạnh thì tránh xuống hầm bí mật.
Đến khi quân ta hình thành được hệ thống hầm bí mật thì mật thám của địch cũng phát hiện được, vậy là chúng tìm mọi cách để triệt phá. Trong một lần, khi phát hiện có địch, ông Lộc nhanh chóng xuống hầm. Không may cái hầm mà ông trốn bị địch phát hiện, chúng lập tức huy động quân tới đào. “Khi tôi đang ở dưới hầm thì nghe thấy tiếng đào đã gần tới cửa, cát rơi xối xả lên đầu. Tính mạng lúc này ngàn cân treo sợi tóc, chỉ dăm nhát xẻng nữa là tôi sẽ bị lộ. Tôi quyết định rút chốt một trong 3 quả lựu đạn mang theo, phòng khi chúng phát hiện ra là tôi khai hỏa, quyết tử cùng địch. Nhưng rất may địch lại bỏ qua, không đào tiếp nữa!” – ông Lộc kể. Ông nhớ lại, một lần thoát chết nữa là trận quyết tử trên sông Xuân Bồ (Lệ Thủy, Quảng Bình) vào khoảng tháng 2/1951, với 2 tiểu đoàn lính Âu – Phi. Sau khi bắn hết đạn ở khẩu tiểu liên, ông vớ luôn khẩu súng gần đó bắn tỉa địch, hạ được 12 tên. Lúc này ông Xanh -Tiểu đội phó hết đạn nên ông Lộc và ông Xanh đổi chỗ cho nhau, đúng lúc đó thì một quả đạn cối câu đến, ông Xanh trúng đạn và hy sinh.
Cứu 300 quân nhờ sự quyết đoán
Đến năm 1959, ông Lộc thuộc biên chế của Tiểu đoàn pháo cao xạ 37, trực thuộc Bộ Quốc phòng, với nhiệm vụ chính là bảo vệ đường dây 559, vận chuyển nhu yếu phẩm, khí tài vào miền Nam. Lúc này, việc vận chuyển xăng dầu chủ yếu vẫn dùng sức người, mỗi người lính phải gùi một thùng xăng 20 lít. Với vị trí là Tiểu đoàn phó, ông Lộc phụ trách 300 quân, cùng với họ đến chỗ tập kết hàng tại B5, thuộc ngã ba biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia. Thời điểm này, địch tăng cường do thám và đã phát hiện ra khu vực có nhiều tiếng người mà quân ta đã tập kết.
|
Tham gia cách mạng từ Tháng 8/1945, ông Lộc đã được phân công giữ các chức vụ: Tháng 8/1945 làm Tiểu đội trưởng du kích xã; Tháng 7/1967 là Tham mưu trưởng D16, đoàn 559; Tháng 12/1968: Tiểu đoàn phó I D46, Đoàn 40 Tây Nguyên; Từ tháng 2/1970 ông lần lượt giữ các chức vụ là trợ lý tác chiến phòng tham mưu sư 325; Trưởng ban Hành chính sư 325; Trưởng ban hậu cứ sư 325. |
Khi anh em tới khu vực chứa xăng và cho xăng vào thùng xong thì đã khoảng 5 giờ chiều, ông Lộc liền phát lệnh nấu cơm, ăn xong sẽ về luôn. Nhiều anh em thắc mắc, sao không để nghỉ qua đêm lấy sức mà lại phải về luôn? Các đại đội trưởng đã kiến nghị lên ông Lộc, nhưng ông vẫn không thay đổi quyết định. Hai ngày sau, đơn vị phụ trách tại điểm tập kết quân nhu điện về cho biết, máy bay địch đã thả bom đánh trúng các kho hàng, kho xăng, còn vị trí mà ông Lộc cho quân nghỉ tạm đã biến thành hố bom sâu hoắm. Đó là lần thứ 5 ông vừa cứu được mạng mình, cứu được 300 lính cùng 6.000 lít xăng khỏi bom địch. Sang năm 1967, để chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968, lúc này ông Lộc là Tiểu đoàn Phó 1 (không có Tiểu đoàn Trưởng) Tiểu đoàn pháo cao xạ 16 trực thuộc Bộ, nhiệm vụ vẫn là bảo vệ đường dây 559. Lần đó, xuất phát từ phía Tây tỉnh Quảng Trị, ông đi với tổ liên lạc 2 người thì bị địch phục kích. Ông kể: “Đang đi thì tôi thấy có bóng một tên ngụy cắt ngang mặt đường, theo phản xạ tự nhiên thì tôi hô to nằm xuống đồng thời nhảy bổ sang vệ đường, đúng lúc này 2 loạt đạn quật thẳng về phía chúng tôi. Những viên đạn đã bắn nát cái ba lô của tôi và khiến hai liên lạc viên hy sinh. Lúc về hậu cứ, mở chiếc ba lô ra thì chiếc vỏ chăn chiên gập nhỏ bị đạn cày nát…”.
Một ngày bắn hạ 8 máy bay
Đầu năm 1951, Pháp điều 2 tiểu đoàn lính Âu Phi từ Thừa Thiên Huế đánh ra Quảng Bình. Theo chỉ đạo của trên, các trung đoàn, trong đó có Trung đoàn 18 sẽ rút lui vào hậu cứ, không tiến hành đánh địch. Tuy nhiên, do Trung đoàn 18 chưa nhận được lệnh nên khi địch kéo quân ra Quảng Bình, Trung đoàn đã bày binh nghênh chiến.
Vào một ngày tháng 2/1951, 6 giờ sáng địch nổ súng vượt sông Xuân Bồ (huyện Lệ Thủy), ta chặn đánh địch bên này bờ sông, bằng hình thức bắn tỉa. Ông Lộc nói, ông đã hạ được 7 tên địch. Quân ta vừa lui vừa đánh địch theo hình thức du kích, gây tiêu hao nhiều sinh lực địch.
Trận Nà Kham năm 1962 mới thực sự để lại những dấu ấn quan trọng trong đời lính chiến của ông. Thời điểm đó ông là Tiểu đoàn Phó 1 phụ trách toàn bộ Tiểu đoàn Pháo cao xạ 16. Địch phát hiện đường dây 559 được sự yểm trợ mạnh của hệ thống pháo cao xạ nên chúng đã huy động máy bay ném bom hòng triệt hạ pháo của ta trên địa bàn, trong đó có Tiểu đoàn pháo cao xạ 16.
Hôm ấy, Tiểu đoàn của ông Lộc bố trí lực lượng gồm: 3 Đại đội với 12 khẩu pháo 37 ly, 1 Đại đội 4 khẩu 12,7 ly. Đang chiến đấu thì 3 Đại đội 37 ly hết đạn, ông chỉ đạo hạ thấp nòng, đồng thời di dời 4 khẩu 12,7 ly ra khỏi trận địa. Kết quả, trận Nà Kham, bắt đầu nổ súng từ 16h đến nửa đêm, Tiểu đoàn pháo cao xạ do ông chỉ huy đã bắn hạ 8 máy bay địch, trong đó có 4 chiếc rơi cách trận địa 4km, bắt sống 1 giặc lái. Sau trận này Tiểu đoàn 16 của ông được phong tặng Huân chương Quân công Hạng 2, còn ông thì được tặng Huân chương chiến công Hạng 3, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tặng.
Nguyễn Công Tâm
