Nhộng tằm rất giàu dinh dưỡng nhưng dễ gây ngộ độc, thậm chí tử vong nếu không bảo quản tốt

| Sống khỏe

GiadinhNet - Nhộng tằm có chứa nhiều protein (đạm) rất dễ bị ôi thiu. Nếu không được bảo quản tốt, chất đạm bị phân hủy thì nhộng tằm sẽ trở thành chất độc gây hại cho cơ thể.

Nhộng tằm là loại côn trùng được dùng làm thức ăn phổ biến ở Việt Nam. Theo lương y Vũ Quốc Trung, nhộng tằm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng có hàm lượng protid cao và gồm nhiều a-xít amin.

Trong Đông y, nhộng tằm còn là một vị thuốc có tác dụng chữa được nhiều bệnh. Trẻ em ăn nhộng tằm rất tốt vì có nhiều can-xi và photpho giúp cơ thể phát triển và phòng chống được bệnh còi xương. Người cao tuổi bị yếu thận, liệt dương hay tiểu tiện són, táo bón dùng nhộng tằm thường xuyên cũng cải thiện sức khỏe.

Tuy nhiên, theo bác sĩ Đào Thị Yến Thủy (Trung tâm Dinh dưỡng TP. HCM), mặc dù rất giàu dinh dưỡng nhưng nhộng tằm cũng thường xuyên gây ra ngộ độc, thậm chí tử vong do chất đạm bị phân hủy khi không được bảo quản tốt.

4 cấm kỵ khi ăn nhộng tằm cần lưu ý:

Những cấm kỵ khi ăn nhộng tằm cần phải biết để tránh rước bệnh vào thân - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Không ăn nhộng khi để lâu quá 1 tuần

Nếu những con nhộng tằm để quá 1 tuần khi thời tiết lạnh hoặc quá 20 giờ khi thời tiết nóng thì tuyệt đối không nên ăn.

Lý do vì khi nhộng tằm chết thường chuyển màu sang vàng nhạt, thâm đen, các đốt trên thân rời rạc, không dính chắc vào nhau. Lúc này, chất đạm sẽ bị phân hủy không còn giá trị dinh dưỡng nữa, mà trở thành chất độc gây hại cho cơ thể.

Ngoài ra, khi mới mua nhộng tằm về, tốt nhất nên chế biến, nấu chín ngay trong ngày hoặc bảo quản trong nhiệt độ từ 0-5oC.

Không ăn quá 2-3 bữa/tháng

Nhiều người thích ăn nhộng tằm nên thường chế biến một lần ăn nhiều bữa. Tuy nhiên đã có nhiều trường hợp bị ngộ độc vì ăn nhộng từ tủ lạnh. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, dù bổ nhưng người dùng không nên ăn quá nhiều, chỉ ăn nhộng tằm một cách phù hợp, khoảng 2-3 bữa/tháng là đủ.

Đối với trẻ em, khi cho ăn nhộng tằm cần cho ăn ít một để thăm dò trước. Nếu trẻ không có dấu hiệu dị ứng thì mới tiếp tục cho ăn lần sau.

Không nấu cùng tôm hoặc cá

Rất ít người biết rằng nhộng tằm nhiễm độc có thể gây ngộ độc, thậm chí có thể dẫn đến tử vong khi không biết cách chế biến và bảo quản. Để tránh ngộ độc từ nhộng tằm, tốt nhất nên mua nhộng tằm sống, hoặc đã qua sơ chế. Đặc biệt không mua nhộng quá to vì nhiều thương lái sẵn sàng tẩm các chất hóa học để nhộng to, căng tròn, bắt mắt. Nếu ăn phải nhộng này rất nguy hiểm.

Những cấm kỵ khi ăn nhộng tằm cần phải biết để tránh rước bệnh vào thân - Ảnh 2.

Không nên mua nhộng quá to vì rất nguy hiểm. Ảnh minh họa

Không ăn khi bị gout hoặc tiền sử dị ứng

Nhộng tằm có chứa nhiều chất đạm, vì thế những người bị bệnh gout nên kiêng tuyệt đối, ăn vào sẽ cho thấy bệnh tái phát ngay lập tức.

Ngoài ra, nhộng tằm có chứa một số chất gây dị ứng. Thông thường, người bị dị ứng do ăn nhộng tằm có dấu hiệu như: buồn nôn, chóng mặt, đau bụng dữ dội, đi ngoài, da bị mẩn đỏ… Theo các bác sĩ, khi có những biểu hiện này cần phải kịp thời đi khám ngay. Đồng thời, tuyệt đối không ăn loại thức ăn này nữa.

Cách chọn và chế biến nhộng tằm an toàn

Để chọn nhộng tằm tươi ngon, cần lưu ý, nhộng có màu vàng ươm, bóng, thịt bên trong trắng ngà và trắng đều, các đốt trên thân không bị rời ra, liên kết không bị lỏng lẻo. Còn nhộng đã để lâu ngày sẽ đổi màu, bị thâm lại, khi bẻ ra các đốt có sự rời rạc. Ngoài ra, nhộng đã để lâu ngày thì có màu vàng nhạt hơn nhộng tươi. Về chế biến, bạn cũng nên nấu chín ngay trong ngày hoặc bảo quản trong nhiệt độ từ 0-5 độ C.

Cách rang nhộng thơm ngon đúng điệu

- Rửa sạch nhộng tằm, ngâm với nước muối pha loãng khoảng 5 phút, đổ vào rổ thưa để ráo nước. Ướp nhộng với muối, hạt nêm, nước mắm, bột ngọt trước khoảng 15 phút cho nhộng thấm gia vị.

- Rửa sạch và cắt nhuyễn lá chanh. Cho dầu ăn vào chảo, phi thơm hành tím băm. Sau đó, trút nhộng vào xào nhanh tay, xào cho nhộng săn lại.

- Tiếp theo, cho lá chanh vào, đảo thêm khoảng 2 phút nữa cho lá chanh dậy mùi thơm. Nêm nếm gia vị lại cho vừa ăn rồi tắt bếp.

M.H (th)

Bình luận (0)
Ý kiến của bạn
Tags:

Cùng chuyên mục

Sau tuổi 60, đi bộ vẫn đều đặn nhưng đôi chân yếu dần: 5 dấu hiệu không nên bỏ qua

Sau tuổi 60, đi bộ vẫn đều đặn nhưng đôi chân yếu dần: 5 dấu hiệu không nên bỏ qua

Sống khỏe -

GĐXH - Nhiều người sau tuổi 60 vẫn duy trì thói quen đi bộ mỗi ngày nhưng lại nhận thấy đôi chân ngày càng yếu, nhanh mỏi hoặc loạng choạng. Theo PGS.TS.BS. TTƯT Nguyễn Thị Kim Liên, Trưởng khoa Phục hồi chức năng (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), đây không đơn thuần là dấu hiệu của tuổi tác mà là cảnh báo sớm của các bệnh lý cơ xương khớp, thần kinh hoặc mạch máu.

Người phụ nữ không uống rượu, không hút thuốc nhưng mắc ung thư gan, nghi ngờ thủ phạm nằm ở món ăn sáng suốt 20 năm

Người phụ nữ không uống rượu, không hút thuốc nhưng mắc ung thư gan, nghi ngờ thủ phạm nằm ở món ăn sáng suốt 20 năm

Sống khỏe -

GĐXH - Nhiều người vẫn cho rằng ung thư gan chủ yếu xảy ra ở người nghiện rượu, hút thuốc lá hoặc mắc viêm gan B, viêm gan C. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy không ít trường hợp có lối sống rất lành mạnh vẫn phát hiện ung thư gan ở giai đoạn muộn. Đáng lo hơn, “thủ phạm” đôi khi lại nằm ngay trong những món ăn quen thuộc mỗi ngày.

7 vật dụng thân quen nhưng có thể gieo ‘độc khí’ vào tạng phủ: Nhiều người dùng mỗi ngày mà không biết

7 vật dụng thân quen nhưng có thể gieo ‘độc khí’ vào tạng phủ: Nhiều người dùng mỗi ngày mà không biết

Sống khỏe -

GĐXH - Nhiều người quan tâm đến chế độ ăn, tập luyện và giấc ngủ nhưng lại ít để ý đến những sản phẩm xuất hiện thường xuyên trong căn bếp, phòng tắm hay phòng ngủ. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào loại hóa chất, liều lượng và thời gian tiếp xúc, không nên hiểu rằng cứ sử dụng một sản phẩm là sẽ gây bệnh.

9 thói quen nhỏ giúp bảo vệ mạch máu, càng lớn tuổi càng nên duy trì

9 thói quen nhỏ giúp bảo vệ mạch máu, càng lớn tuổi càng nên duy trì

Sống khỏe -

GĐXH - Mạch máu có thể bị tổn thương và hình thành mảng xơ vữa âm thầm trong nhiều năm mà không gây triệu chứng rõ ràng. Chế độ ăn nhiều muối, chất béo không lành mạnh, ít vận động, hút thuốc, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và đái tháo đường đều có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.