Đó là bà Đỗ Thị Thanh, 80 tuổi. Người dân phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội vẫn quen gọi bà là bà Kỷ, theo tên của chồng.
“Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”
|
|
|
Bà Kỷ đang chuẩn bị nấu bữa cơm trưa cho các chiến sỹ Công an phường Thụy Khuê tại nhà. Ảnh: Lê Thu Hòe |
|
Trung úy Tuấn, cảnh sát hình sự Công an phường Thụy Khuê cho biết: “Bà lúc nào cũng lo công an đói. Những hôm chúng tôi thức đêm trực, không kể mưa, rét... bà mang cơm, mua đồ ăn đến bắt anh em chúng tôi ăn cho bằng hết rồi mới chịu đi về. Anh em có đưa tiền bà cũng không nhận, lại còn mắng té tát... Rồi những đợt cao điểm chiến dịch trong năm, bà lại thường trực cùng anh em Công an phường. Không hưởng lương lộc, không chút riêng lợi, bà chỉ mong những người chiến sỹ không phải nhịn đói, nhịn khát ngày cuối tuần”. |
Một ngày cuối tuần giá rét, chúng tôi theo chân anh công an trẻ Nguyễn Văn Hiếu đến nhà số 1 ngõ 105 phố Thụy Khê, quận Tây Hồ. Bà lão 80 tuổi đang cặm cụi bên bếp than hồng, thoăn thoắt chế biến món lòng lợn xào dưa để kịp 11h30 cho anh công an trẻ tên Hiếu đưa cơm về trụ sở Công an phường Thụy Khuê. Nụ cười và ánh mắt hiếu khách của bà vẫn nhìn về phía chúng tôi và không quên chế cho mấy vị khách lạ một ấm trà nóng.
Bà lão được các CB, CS Công an phường Thụy Khuê gọi là “người đàn bà Bôn sê vích”. Hàng ngày, bà vẫn lui tới đồn công an của phường Thụy Khuê thăm nom, chăm lo từng miếng ăn cho anh em công an trong phường. “Hôm nay cuối tuần, nhà bếp của Công an phường nghỉ, chẳng có ai nấu ăn cho chúng nó... Bất đắc dĩ tôi trở thành chị nuôi quân vào mỗi dịp cuối tuần cho Công an phường Thụy Khuê”, bà lão bộc bạch lý do làm chị nuôi quân tự nguyện của mình.
Có khi là con cá, cân thịt, chục đậu phụ, mớ rau... bà mua và “quẳng vào” cho bếp của đồn, có khi là một vài món ăn bà tự nấu ở nhà mang ra để cải thiện cho anh em công an. “Bây giờ chẳng có ai phải đói nữa nhưng “sểnh nhà ra thất nghiệp”, chúng nó xa nhà, đi trực, đi làm công tác an ninh, dân vận suốt ngày như thế, thời gian đâu mà ăn uống được tử tế. Mình giúp chúng một miếng ăn ngon chúng cũng ấm lòng... mình cũng vui”, bà cụ chia sẻ.
Thương cảnh anh em công an phường cơm bụi bên đường mỗi dịp cuối tuần, bà hì hụi đi chợ thổi cơm rồi đưa đến đồn. Mỗi suất cơm của các chiến sỹ công an ở đây chỉ có 20.000 đồng nên có phần đạm bạc. Lần nào đi chợ, bà cũng bỏ tiền mua thêm một vài món gọi là cải thiện khẩu phần ăn. Mọi người có hỏi thì bà trả lời qua loa: “Hôm nay, bà đi chợ mua được thức ăn vừa rẻ vừa tươi ngon nên có thêm món cho các con...”.
Đã mấy chục năm nay, qua 3 - 4 đời Trưởng đồn Công an phường Thụy Khuê, không một chiến sỹ nào lại không biết đến người “vú già nuôi quân” này. Không chỉ chăm lo bữa ăn cho các công an phường Thụy Khuê, bà lão còn thường xuyên giúp đỡ những người nghèo khó gặp cảnh hoạn nạn. “Mấy hôm trước đi chợ thấy thằng bé đánh giày đứng co ro cạnh góc tường, trên người chỉ có một manh áo mỏng tang, da thịt tím tái vì rét. Nhìn thấy thương quá, tôi chạy theo và dẫn nó vào một cửa hàng quần áo bên đường mua cho một cái áo len. Nhưng khi trả tiền thì lại thiếu, tôi vẫn nhất quyết đòi mua bằng được. Người bán hàng mắng tôi bị hâm không có tiền mà đòi mua đồ. Bực lắm, tôi đã phải ký gửi làn thức ăn vừa mua và số tiền lẻ có trong tay để chạy về nhà lấy thêm tiền ra mua cho cậu bé đánh giầy cái áo...”, bà kể.
Kiếp đi ở của cô Gái
|
|
|
Bà Kỷ bên bình nước đường chanh đá mang cho những chiến sỹ Công an phường Thụy Khuê. |
Tên tục của bà là Đỗ Thị Thanh, nhưng chẳng mấy ai ngoài con cháu trong nhà biết đến cái tên đó. Mỗi giai đoạn trong cuộc đời bà lại có một cái tên gọi khác nhau. Chúng tôi hỏi cái tên nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất với bà. Đó là “Gái”. Nước mắt bà dưng dưng. Dường như chúng tôi đã chạm vào miền kí ức mà bà đã cất giữ sâu bấy lâu nay. Cái tên đó gắn liền tuổi thơ, đời con gái của bà với bao mất mát, tủi nhục của thân phận kẻ đi ở.
Bà không biết ngày sinh, tháng đẻ của mình, chỉ biết năm nay mình bước sang tuổi 80. Bố mất từ khi chưa chào đời, mẹ bỏ đi bước nữa, bà Thanh trở thành đứa trẻ mồ côi, lang thang nơi đầu đường xó chợ kiếm sống qua ngày. Rồi bà được đưa về ở cho một gia đình họ hàng. Nhưng số đời vẫn vậy: “Người ta cho mình ăn một thì mình phải làm cho họ mười”. Chúng tôi là thế hệ con cháu, không biết cảnh đi ở trước kia ra sao, nên chăm chú lắng nghe. Vì thế bà cũng cởi mở tấm lòng mình hơn và nghẹn ngào kể chuyện ngày xưa cũ.
Ngày đi ở, cô bé 10 tuổi đã phải cáng đáng nhiều việc lớn bé trong nhà chủ, từ trông em, đến cơm nước và đồng áng. Những ngày mùa đông giá lạnh, phải thức giấc từ 4h sáng, đi lội sông, nước đến tận cổ vớt bèo nuôi lợn. Rồi đêm về chỉ một manh áo, chiếc quần đụp rách tả tơi, quấn thêm chiếc bao tải, nằm co ro trong đống rơm góc bếp. Trong khi đó bụng đói meo đến nỗi không còn ngủ được nữa.
Bà Thanh cười như khóc khi nhắc lại lần đói quá, ăn vụng 2 lá bún của chủ nhà và bị bắt gặp. Bà đã bị đánh chửi trong mấy ngày liền. Tủi nhục và quá vất vả, bà bỏ trốn. Nhưng một mình không nơi nương tựa, không tài sản bà chẳng thể đi xa. Rồi “cô Gái” bị bắt lại. Bị đánh nhiều hơn, phải làm nhiều và ăn ít hơn trước đấy. Bà xúc động khi nhắc lại lời chửi của bà chủ: “Dù mày có lên trời tao cũng lôi chân mày xuống. Mày xuống địa ngục tao cũng kéo tóc mày mà lôi lên. Mày còn lâu mới thoát khỏi tay tao”.
Gánh nước nuôi 7 người con
23 tuổi bà lấy chồng. Quê chồng bà Thanh ở Hòa Xá (Ứng Hòa, Hà Tây cũ), một làng quê nghèo xác xơ. Gia đình bà trở lại làng Thụy Khuê mưu sinh. Bà còn nhớ như in cái ngày sinh cậu Hòa, con trai đầu lòng: “Sáng đó tôi sinh cu Hòa, chẳng được miếng cơm nào. Đến chiều đói quá, không chịu được, tôi đành mò ra ao hái ít rau về luộc chấm muối. Nghĩ mà tủi quá”. Chồng bà tên Kỷ làm công nhân nhà máy giấy Trúc Bạch. 7 người con lần lượt ra đời. Lương công nhân của ông chẳng đủ cả nhà ăn đến giữa tháng, bà đã phải bươn trải làm biết bao việc: trông trẻ, phụ hồ, xếp hàng mua gạo, hay gánh nước thuê... Chiến tranh tàn phá, cuộc sống của gia đình bà chật vật, nhưng dù đang bưng rổ gạo mới vay, nếu gặp ai đói hơn mình, bà sẵn sàng nhường lại một phần gạo.
4 người con trai của bà đều tham gia chiến đấu bảo về Tổ quốc. Rồi cả 4 đều trở về nguyên vẹn và rắn rỏi hơn. Bà nói: “Quả là trời cao đất dày thương số mình khổ, các con đều bình an trở về. Có phải bà mẹ nào cũng may mắn được như tôi đây. Vì thế mình càng phải tích đức nhiều hơn nữa”.
Dũng sĩ giải hòa
Bà thương những đứa trẻ ngày rét chỉ một manh áo rách. Chúng làm hiện lên trong bà hình ảnh “cô Gái” năm nào. Bà không tiếc mấy chục nghìn tiền chợ để mua cho các em nhỏ những manh áo ấm. Đôi khi bà còn không có tiền trong túi, đành phải nói khéo để người bán chịu cho bà, nếu không lỡ các em đi mất.
Một cán bộ công an trêu bà rằng, cứ vụ đánh nhau nào bà cũng có mặt, rằng bà thích bao đồng mấy chuyện rắc rối ngoài xã hội. Bà “chửi”: “Phúc 3 đời nhà các con đó. Bà có mặt thì bà còn khuyên ngăn, giải hòa để các con đỡ xét xử tùm lum, mất công sức. Để thời gian rảnh mà làm việc khác”. Những tên đầu gấu, đầu bò phường Thụy Khê, bà đều nắm vững. Bà không phán xét mà đơn giải chỉ giúp đỡ miếng cơm manh áo.
Nhiều vụ va chạm, gây ghổ và cãi vã, đều được bà giải quyết êm đẹp. Anh công an đi cùng ghé tai chúng tôi bảo rằng: “Bà còn nhiều chiến công hiển hách lắm nhưng ngại chuyện kể lể công trạng. Bà có nhiều nghiệp vụ giải hòa mà chúng tôi còn thiếu...”.
Lê Thu Hòe