Đưa dinh dưỡng lên bàn nghị sự
GiadinhNet - Với mức giảm trung bình 1,5%/ năm, Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) đánh giá là nước có tốc độ giảm suy dinh dưỡng nhanh nhất trong khu vực…
![]() |
|
Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam đã giảm nhanh. Ảnh: PV. |
Theo kết quả Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001-2010, trong những năm qua, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (thể nhẹ cân) ở Việt Nam đã giảm nhanh, bền vững từ 44% năm 1994 xuống còn gần 20% vào năm 2008, 18% vào năm 2009 và 17% vào năm 2010. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng được đưa lên bàn nghị sự tại Hội nghị lần thứ 63 của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương tại Việt Nam.
PGS.TS Lê Thị Hợp, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, dinh dưỡng có vai trò quan trọng với mọi người dân. Chỉ có dinh dưỡng hợp lý mới mang lại sức khoẻ cho bà mẹ, trẻ em và mọi người dân. Nhận thức rõ tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sự phát triển giống nòi cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 1996-2000 và sau đó là Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001-2010.
Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra về dinh dưỡng năm 2010, do Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế) thực hiện tại 63 tỉnh, thành phố cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi, tính chung cả nước mỗi năm trung bình giảm khoảng 1,5%, từ 31,9% năm 2001 xuống còn 25,2% vào năm 2005 và 17,5% vào năm 2010 (vượt chỉ tiêu của Chiến lược đặt ra); tỷ lệ dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi), từ 43,3% (năm 2000) xuống còn 29,3% (năm 2010). Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn có liên quan đến tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) của bào thai đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã từng bước được khắc phục, hiện nay giảm xuống còn 19,6%. Bên cạnh đó, từng bước giải quyết được tình trạng thiếu vitamin A, thiếu i-ốt và thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai.
PGS.TS Lê Thị Hợp cho biết, so với các nước trong khu vực thì tình trạng dinh dưỡng của Việt Nam cũng đã được cải thiện nhiều. Từ năm 1990 -2009, tỷ lệ SDD trẻ em của 24 nước đang phát triển giảm từ 40% xuống 29% với mức giảm bình quân 0,61%/năm. Trong cùng thời gian trên, Việt Nam đã là nước giảm SDD nhanh nhất với tốc độ bình quân 1,37%/năm, trong khi Thái Lan giảm chậm (từ 22,4% xuống 18,6%) và Indonesia (từ 37% xuống 32%), Philippines (từ 20% xuống 19,6%) – đồng thời các nước Nam Phi tỷ lệ SDD trẻ em không giảm mà lại tăng.
|
Hội nghị lần thứ 63 của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương tại Việt Nam diễn ra từ 24-28/9/2012 tại Hà Nội với sự tham dự của Tổng Giám đốc WHO Margaret Chan, Giám đốc WHO khu vực Tây Thái Bình Dương và khoảng 400 đại biểu quốc tế đến từ 37 quốc gia trên thế giới, các tổ chức Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc tế và các đối tác y tế lớn. Dự kiến Lễ khai mạc diễn ra sáng ngày 24/9 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. |
Với những giải pháp đồng bộ đó, Việt Nam đã thực hiện thành công chương trình phòng chống thiếu vitamin A và bệnh khô mắt ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc. Đến năm 1995 Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận bệnh khô mắt do thiếu vitamin A được loại trừ ở Việt Nam, kết quả này đến nay vẫn được duy trì. Kết quả của chương trình: “Bổ sung vitamin A trên toàn quốc” hàng năm khoảng 3,5 triệu trẻ em được uống vitamin liều cao và đã giúp khoảng hơn 6.000 trẻ em thoát khỏi khô mắt và mù lòa do thiếu vitamin A. Hàng năm khoảng 7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc được chăm sóc dinh dưỡng, trong đó có khoảng 100.000 trẻ em dưới 2 tuổi được nhận các sản phẩm dinh dưỡng (đặc biệt các vùng bị thiên tai bão lũ). Ngoài ra, chương trình dinh dưỡng triển khai rộng khắp trên toàn quốc đã nâng cao kiến thức dinh dưỡng và thực hành dinh dưỡng cho người dân, đặc biệt là bà mẹ - trẻ em.
Tuy nhiên, PGS.TS Lê Thị Hợp cho biết, Việt Nam đang phải đối đầu với những thách thức khác về dinh dưỡng, nhất là tình trạng gia tăng trẻ bị thừa cân, béo phì, một số bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng (được gọi là gánh nặng kép về dinh dưỡng). Chính vì vậy cần có những giải pháp cụ thể và nhất là hướng tới chế độ dinh dưỡng hợp lý cho cộng đồng.
Cùng với việc triển khai các giải pháp đồng bộ ở quốc gia, Việt Nam đã đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ. Việt Nam đã thúc đẩy quan hệ với các tổ chức quốc tế UNICEF, WHO, FAO và qua quan hệ đó một số dự án hợp tác đã được triển khai như: Dự án phòng chống thiếu vitamin A và bệnh khô mắt, giám sát dinh dưỡng. Đặc biệt đáng chú ý là mối quan hệ với các Viện trong khu vực Tây Thái Bình Dương như: Thái Lan, Indonesia, Philippines (Trung tâm Los Banos) và nhiều trường đại học như: Đại học Tổng hợp Nông nghiệp (Khoa dinh dưỡng người) Wageningen (Hà Lan)… Việt Nam đã tham gia các diễn đàn, hội nghị, hội thảo do WHO khu vực khởi sướng và tổ chức. Hưởng ứng các nghị quyết của ủy ban Khu vực Tây Thái Bình Dương. Cụ thể, khuyến khích nâng cao bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu và đề xuất phụ nữ thai sản được nghỉ đẻ 6 tháng; Thí điểm mô hình phòng chống thiếu máu thiếu sắt, mô hình bổ sung viên sắt hàng tuần bằng tiếp thị xã hội ở Hải Dương, mô hình bổ sung viên sắt và phát miễn phí cho các vùng khó khăn ở Yên Bái…
Nhờ đó, tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ có thai tại các vùng có chương trình giảm xuống còn 18,9% vào năm 2009, đã đạt được mục tiêu của Chiến lược. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm < 20% vào năm 2008, vượt mức đề ra trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng X đề ra cho năm 2010. Như vậy, hàng năm có trên 110.000 trẻ em dưới 5 tuổi thoát khỏi kênh suy dinh dưỡng; góp phần cải thiện thể lực, trí lực, nâng cao tầm vóc trẻ em Việt Nam. Mặt khác, theo ước tính của WHO, giảm suy dinh dưỡng góp phần giảm khoảng 22% tử vong liên quan đến dinh dưỡng của trẻ 36 tháng tuổi. Kiến thức và thực hành dinh dưỡng hợp lý của các bà mẹ và người dân đã được cải thiện rõ.
