Giảm thiểu khó khăn cho các nạn nhân da cam/dioxin
GiadinhNet - Trong giai đoạn 2 (từ năm 2014-2016), dự án được mở rộng thêm ở 3 tỉnh Lào Cai, Quảng Nam, Bến Tre với việc chú trọng đến tăng cường phát hiện sớm-can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật. Dự án đã thực hiện khám và phát hiện khuyết tật, đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng cho hơn 22.000 người khuyết tật.
Nằm trong Kế hoạch hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến 2020, Dự án “Tổ chức phục hồi chức năng (PHCN) tại cộng đồng cho nạn nhân chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam” do Bộ Y tế chủ trì đã được giao cho Trường ĐH Y tế công cộng thực hiện.
Ở giai đoạn 1 (từ năm 2008-2013), dự án được triển khai tại 3 tỉnh Thái Bình, Quảng Ngãi và Đồng Nai đem lại những hiệu quả thiết thực cho các nạn nhân và người khuyết tật.

Cán bộ dự án tham gia giám sát hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại tỉnh Bến Tre.
Trong giai đoạn 2 (từ năm 2014-2016), dự án được mở rộng thêm ở 3 tỉnh Lào Cai, Quảng Nam, Bến Tre với việc chú trọng đến tăng cường phát hiện sớm-can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật.
Theo PGS TS Trần Trọng Hải, Chủ tịch Hội PHCN Việt Nam, cố vấn cao cấp của dự án, ở giai đoạn 2, dự án đã thực hiện khám và phát hiện khuyết tật, đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng cho hơn 22.000 người khuyết tật.
Trong đó, hơn 13.000 người (trong đó có nạn nhân da cam) được cộng tác viên đánh giá nhu cầu PHCN, lập kế hoạch và hướng dẫn PHCN tại nhà, tư vấn và chuyển giao kiến thức cho nạn nhân/người khuyết tật và thành viên trong gia đình, cũng như hướng dẫn gia đình chế tạo những dụng cụ trợ giúp tự tạo như nạng, gậy, ròng rọc,… phù hợp để hỗ trợ quá trình tập luyện PHCN tại nhà của nạn nhân/người khuyết tật.
Phần lớn trong số đó sau khi tham gia dự án đã có tiến bộ trong tập luyện PHCN/hoà nhập xã hội với sức khoẻ được cải thiện rõ rệt.
Báo cáo sơ kết giai đoạn 2 của dự án cho biết đã có trên 1.000 lượt nạn nhân tại 6 tỉnh dự án (Thái Bình, Quảng Ngãi, Đồng Nai, Lào Cai, Quảng Nam và Bến Tre) được khám chữa bệnh và PHCN theo đúng nhu cầu tại các bệnh viện trong phạm vi các tỉnh thực hiện dự án.
Riêng về mục tiêu phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật sau sinh cho trẻ khuyết tật trong đó có con cháu nạn nhân, dự án đã tiến hành điều tra 27.000 hộ gia đình với hơn 9.000 trẻ dưới 6 tuổi, đã phát hiện gần 5.000 người khuyết tật, trong đó có hơn 200 trẻ dưới 6 tuổi bị khuyết tật.
PGS.TS Hoàng Văn Minh, Phó Hiệu trưởng nhà trường, Trưởng Ban Dự án cho biết, các hoạt động dự án nằm trong Kế hoạch hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến 2020 theo Quyết định số 651/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Qua 3 năm triển khai đã đạt những mục tiêu đề ra là phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật sau sinh cho cho trẻ khuyết tật trong đó có nạn nhân; Chuyển giao kiến thức và kỹ thuật phục hồi chức năng tại nhà cho nạn nhân chất độc hoá học/dioxin và người khuyết tật đồng thời cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và PHCN tại các cơ sở y tế cho nạn nhân có nhu cầu, đồng thời duy trì và phát triển mạng lưới phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Bên cạnh đó, hoạt động chăm sóc và PHCN cho nạn nhân và người khuyết tật cũng đã nhận được sự quan tâm phối hợp liên ngành, cả giáo dục, y tế và chính quyền địa phương. Theo đánh giá, dự án đã bảo đảm đúng tiến độ đề ra và bước đầu có một số thành công, tạo ra được các tiền đề để hiệu quả của dự án có tính bền vững.
Những việc làm trên của ngành Y tế đã góp phần khắc phục hậu quả của chất độc hóa học/dioxin lên sức khỏe con người, giúp các nạn nhân được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, hòa nhập và tái hòa nhập cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giải quyết ảnh hưởng của chất độc hóa học/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam lên sức khỏe con người là vấn đề lớn, cần có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và có sự phối hợp của nhiều bộ, ngành và sự hợp tác quốc tế.
H.Lê