Nỗ lực nâng cao chất lượng dân số ở Việt Nam hiện nay
GĐXH - Chất lượng dân số được hiểu là tổng hợp những thuộc tính bản chất của dân số gồm các yếu tố về thể lực, trí lực, tinh thần của con người phù hợp với quy mô, cơ cấu dân số (tuổi, giới tính, phân bổ, trình độ học vấn, nghề nghiệp...) và với trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Chất lượng dân số được đánh giá thông qua các nhóm chỉ tiêu về dân số, chỉ tiêu về đánh giá chất lượng con người, chỉ tiêu về môi trường kinh tế - xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển, hoàn thiện con người. Chất lượng dân số được xác định là nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của quốc gia, là "vốn con người".
Đối với Việt Nam, đóng góp tích cực của quy mô dân số cho tăng trưởng kinh tế kết thúc vào năm 2019, sau đó, chất lượng dân số là nhân tố chính đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
Những khó khăn, thách thức
Trong thời gian vừa qua, mặc dù chất lượng dân số ở Việt Nam đã được nâng lên, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nước, song chất lượng dân số đang gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn:
Thứ nhất, thể lực, tầm vóc, sức bền của con người Việt Nam chậm được cải thiện và còn yếu so với nhiều nước khác trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển. Mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể. Mức sinh chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền, tỉnh, thành phố. Mất cân bằng giới tính khi sinh còn ở mức nghiêm trọng. Số năm sống khoẻ mạnh của người Việt Nam thấp so với nhiều nước. Người ít có điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con còn đẻ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Chỉ số phát triển con người (HDI) chưa cao. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người.

Nâng cao trí tuệ, thể lực của trẻ em để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. Ảnh: P.V
Thứ hai, lợi thế của dân số vàng chưa được khai thác hiệu quả. Tốc độ già hóa dân số nhanh và chưa có hệ thống giải pháp phù hợp thích ứng với già hóa dân số. Phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập. Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư và ở nhiều đô thị, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế....
Thứ ba, chất lượng dân số về trí lực và năng lực còn thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp và cơ cấu lao động được đào tạo còn bất hợp lý. Năng suất lao động của Việt Nam hiện vẫn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực. Năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học và công nghệ của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều hạn chế. Năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp của lực lượng lao động còn thấp. Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực còn hạn chế.
Thứ tư, bộ máy, phương thức quản lý về dân số, chất lượng dân số có tính hiệu lực, hiệu quả thấp, chưa phù hợp với đặc thù quản lý tổng hợp, đa ngành của công tác dân số, chất lượng dân số. Việc phối hợp, liên thông, kết nối giữa các Bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao chất lượng dân số còn hạn chế, chưa rõ đầu mối, đòi hỏi phải có thể chế, mô hình, cơ chế quản lý liên ngành tổng hợp để quản lý công tác dân số, chất lượng dân số. Công tác truyền thông giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng hiệu quả chưa cao...
Những hạn chế về chất lượng dân số nêu trên đã trở thành những rào cản đối với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững, làm hạn chế năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và làm giảm đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng trong thời gian tới.
Nâng cao chất lượng dân số - đột phá chiến lược
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định nâng cao chất lượng dân số là một trong các đột phá chiến lược và định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 , quán triệt định hướng nêu trên, trong thời gian tới, cần chú trọng, và tập trung hơn nữa vào các giải pháp, nhiệm vụ nâng cao chất lượng dân số, cụ thể:
Một là, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của chất lượng dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội nhất là ở các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách. Nâng cao chất lượng dân số cần được nhận thức là nâng cao toàn diện cả về thể lực, trí lực và tâm lực của con người, phù hợp với quy mô, cơ cấu dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng đào tạo kỹ năng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục tâm hồn, đạo đức.
Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân số và lồng ghép các biến dân số vào kế hoạch hoá phát triển. Bảo đảm thống nhất nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của toàn xã hội về chính sách dân số, đưa công tác dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền. Ban hành các nghị quyết, chiến lược, kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm để cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn, tình hình thực tiễn của Bộ, ngành, địa phương. Thực hiện lồng ghép các yếu tố dân số vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội do Bộ, ngành, địa phương chủ trì xây dựng và thực hiện. Đầu tư kinh phí, kiện toàn tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ đủ năng lực để thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ về công tác dân số của ngành, địa phương đã đề ra. Đẩy mạnh phong trào thi đua thực hiện các nhiệm vụ về công tác dân số. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, phong trào thi đua về công tác dân số của các địa phương, đơn vị. Đề cao tính tiên phong gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trong việc thực hiện chính sách dân số.

Nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của chất lượng dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội nhất là ở các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách. Ảnh: TL
Ba là, phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số, chất lượng dân số, kế hoạch hóa gia đình. Củng cố, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng mạng lưới cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình ở tuyến cơ sở. Tiếp tục huy động các thành phần kinh tế tham gia tiếp thị xã hội, xã hội hóa cung cấp phương tiện và dịch vụ tránh thai. Mở rộng khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục thân thiện với thanh niên. Thí điểm, từng bước mở rộng chương trình ngăn ngừa, sàng lọc, can thiệp, điều trị sớm các bệnh, tật là nguyên nhân dẫn đến vô sinh ở nhóm dân số trẻ. Tập trung mở rộng mạng lưới, nhanh chóng phổ cập chương trình cung cấp dịch vụ tầm soát, chẩn đoán, can thiệp, điều trị sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh cho mọi phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Tiếp tục đẩy mạnh, thực hiện có hiệu quả các chương trình thể dục, thể thao, rèn luyện, nâng cao sức khỏe, các chương trình dinh dưỡng, sữa học đường nhằm nâng cao thể lực, tầm vóc người Việt Nam. Đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi. Phát triển mạng lưới chăm sóc người cao tuổi đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng theo các cấp độ khác nhau. Củng cố mạng lưới chuyên ngành lão khoa theo nguyên tắc gắn kết dự phòng, nâng cao sức khỏe, điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc giảm nhẹ.
Bốn là, đổi mới truyền thông, vận động trong cộng đồng và giáo dục dân số trong nhà trường. Tập trung đẩy mạnh, tăng cường độ và nâng cao hiệu quả các hoạt động tuyên truyền giáo dục về dân số và phát triển. Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông trực tiếp thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của các ngành các cấp. Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản trong và ngoài nhà trường.
Năm là, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Cấu trúc giáo dục phổ thông cần thay đổi căn bản theo hướng rút gọn qui mô ở cả ba cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông theo lộ trình giảm dân số trong độ tuổi đi học, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo, thu hút tư nhân tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo.
Sáu là, ưu tiên đào tạo nghề tại chỗ cho lực lượng lao động phổ thông để mở rộng cơ hội tìm kiếm việc làm cho đại bộ phận lực lượng lao động. Cần tập trung đào tạo những kỹ năng, chuyên môn dựa trên nhu cầu thực tế của địa phương thông qua các hình thức tự đào tạo, tăng cường liên kết đào tạo giữa các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo dựa trên nhu cầu. Nhà nước, đặc biệt là chính quyền cơ sở, cần tạo điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất, một phần kinh phí hoặc cung cấp thông tin, tuyên truyền, quảng bá để phát triển các hình thức cộng đồng dạy nghề. Đổi mới toàn diện hệ thống các trung tâm dạy nghề tại địa phương hiện nay. Việc dạy nghề cần phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động và khả năng mở mang ngành nghề thực tế tại địa phương, chứ không phải theo một chương trình soạn sẵn hoặc áp đặt từ trên xuống một cách duy ý chí. Cần thu hút các cơ sở dạy nghề tư nhân tham gia vào công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động địa phương bằng cách tạo cơ chế đấu thầu công khai nhận kinh phí dạy nghề của ngân sách Nhà nước giữa các trung tâm dạy nghề công lập với các cơ sở đào tạo nghề tư nhân. Nghiên cứu áp dụng các hình thức chuyển trợ cấp của Nhà nước cho lĩnh vực đào tạo dạy nghề từ trợ cấp bên cung sang trợ cấp bên cầu.
Bảy là, tiếp tục phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển hệ thống đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Cập nhật, nâng cấp chương trình, đổi mới toàn diện cơ chế quản lý, phương pháp dạy và học trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng. Xây dựng chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Xây dựng tiêu chuẩn giảng viên cho từng cấp, xây dựng tiêu chí đánh giá và thực hiện việc đánh giá thành tích của từng giảng viên nhằm tạo động lực, kích thích sự học hỏi và phấn đấu trong tập thể giảng viên, thu hút và đãi ngộ xứng đáng đối với những giảng viên giỏi nghiệp vụ và giàu kinh nghiệm thực tế, giảng viên người nước ngoài. Chú trọng hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học.
Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?
Dân số và phát triển - 9 giờ trướcXét nghiệm Pap (hay Pap smear) là một xét nghiệm quan trọng để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Thời điểm và tần suất thực hiện thường phụ thuộc vào độ tuổi, tiền sử sức khỏe của người phụ nữ.
Hưng Yên: Dấu ấn công tác dân số vùng biển và ven biển năm 2025
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Chi cục Dân số và Trẻ em tỉnh Hưng Yên đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động với cách làm linh hoạt, phù hợp đặc thù vùng biển và ven biển. Nổi bật là các mô hình truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và nâng cao chất lượng dân số.
Đau bụng dưới cảnh giác với xoắn buồng trứng
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcXoắn buồng trứng xảy ra chủ yếu với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tuy nhiên bệnh có thể xuất hiện ở cả phụ nữ mãn kinh, trẻ em thậm chí là trẻ sơ sinh.
Nhận biết dấu hiệu thụ thai thành công: Khi nào cơ thể bắt đầu thay đổi?
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcSau khi quá trình thụ tinh diễn ra, cơ thể người phụ nữ không thay đổi ngay lập tức mà cần một khoảng thời gian để các hormone bắt đầu kích hoạt. Việc theo dõi sát sao các thay đổi, dù là nhỏ nhất sẽ giúp bà mẹ có kế hoạch chăm sóc sức khỏe kịp thời.
6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcCo thắt nhẹ hay đầy hơi khi hành kinh là bình thường nhưng nếu đau bụng kinh dữ dội hoặc có thể kèm chảy máu ồ ạt, đó có thể là dấu hiệu bệnh lý phụ khoa nguy hiểm cần đi khám ngay.
Công tác dân số năm 2025: Dấu mốc 'về đích' quan trọng, tạo nền tảng cho giai đoạn mới
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcGĐXH - Chiều 22/1, Cục Dân số (Bộ Y tế) tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Tham dự và chỉ đạo Hội nghị có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị thuộc Bộ Y tế cùng đại diện các cơ quan báo chí Trung ương và Hà Nội.
5 loại thực phẩm tự nhiên giúp phụ nữ giảm nguy cơ ung thư vú
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcMặc dù cơ chế chính xác về việc hormone hay các tế bào bình thường chuyển biến thành ung thư vú vẫn đang được nghiên cứu nhưng chế độ ăn uống lành mạnh đã được chứng minh giúp hỗ trợ bảo vệ cơ thể khỏi một số bệnh ung thư, trong đó có ung thư vú.
Rong kinh kéo dài, bé gái 13 tuổi phát hiện dị tật bẩm sinh hiếm gặp
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Rong kinh kéo dài bất thường ở tuổi dậy thì có thể là dấu hiệu cảnh báo dị tật bẩm sinh hiếm gặp. Trường hợp bé gái 13 tuổi vừa qua là điển hình.
Người đàn ông 35 tuổi tinh hoàn sưng to gấp 5 lần, bác sĩ cảnh báo nguy cơ suy sinh dục
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Tinh hoàn đột ngột sưng to, đau dữ dội kèm sốt và tiểu buốt, người đàn ông 35 tuổi đi khám phát hiện viêm tinh hoàn – mào tinh hoàn do vi khuẩn nguy hiểm.
70% ca ung thư hắc tố bắt nguồn từ những thói quen tưởng như vô hại nhiều người mắc phải
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Một lần cháy nắng, nốt ruồi bị cọ xát liên tục, trầy xước hay vết thương không được xử lý đúng cách... Những việc tưởng chừng nhỏ nhặt trong cuộc sống đều có thể trở thành "công tắc" kích hoạt khối u hắc tố ác tính (melanoma) – loại ung thư da nguy hiểm bậc nhất.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.