Các vấn đề tổ chức thanh tra, thẩm quyền thanh tra, công khai kết luận thanh tra, trách nhiệm người đứng đầu... giành được nhiều sự quan tâm.
|
|
|
Luật Thanh tra năm 2010 sẽ là công cụ hữu hiệu để phòng chống tham nhũng. Ảnh: minh họa |
Công khai kết luận
Luật Thanh tra là hành lang pháp lý cao nhất trong công tác thanh tra, được Quốc hội thông qua năm 2010. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 và có nhiều thay đổi so với các quy định trước đây. Trong đó, việc công khai các kết luận thanh tra được chỉ rõ.
Theo ông Trần Đức Lượng - Phó Tổng thanh tra Chính phủ: "Công khai kết luận thanh tra là một trong 10 nội dung Quốc hội giao Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành. Khoản 1, điều 39 Luật Thanh tra quy định: Kết luận Thanh tra phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thanh tra Chính phủ đề xuất Chính phủ qui định không công khai kết luận nếu nội dung kết luận ấy thuộc phạm vi bí mật nhà nước; việc công khai làm phương hại đến an ninh quốc gia, làm mất ổn định xã hội, gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục".
Trên thực tế, hiện Thanh tra Chính phủ đã áp dụng biện pháp công khai hoạt động cũng như kết luận thanh tra của mình qua báo chí, cuộc họp này được tiến hành mỗi quý một lần. Ngoài ra còn có nhiều biện pháp công khai khác, ví dụ như đăng toàn văn trên trang tin điện tử của cơ quan thanh tra...
Trách nhiệm người đứng đầu!
Một trong những mối quan tâm hàng đầu đó là trong kết luận thanh tra có chỉ rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan được thanh tra hay không. Cụ thể hơn, có ý kiến chỉ ra rằng tại điểm 3, điều 49 Luật Thanh tra về báo cáo kết quả thanh tra hành chính quy định: Trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì báo cáo phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra hành vi tham nhũng theo 3 mức độ. Nhưng trong nội dung kết luận thanh tra hành chính, quy định tại điều 50 Luật Thanh tra lại không nêu nội dung trên. Như vậy, có điểm gì không tương xứng với điều 55 của Luật Phòng chống tham nhũng quy định việc xử lý phải được nêu trong kết luận thanh tra hay không?
Ông Trần Đức Lượng giải thích, một trong những căn cứ quan trọng để ra kết luận thanh tra là báo cáo kết quả của đoàn Thanh tra. Điều 49 Luật Thanh tra quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với pháp luật về phòng chống tham nhũng. Như vậy, đương nhiên trong kết luận thanh tra phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra hành vi tham nhũng (nếu có) theo các mức độ: yếu kém về năng lực quản lý, thiếu trách nhiệm trong quản lý, bao che cho người có hành vi tham nhũng.
Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Thanh tra, đối tượng thanh tra được biết về dự thảo kết luận. Thanh tra Chính phủ cho rằng, theo dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra mà Thanh tra Chính phủ đã trình thì trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra có thể gửi dự thảo kết luận cho đối tượng thanh tra để họ giải trình về những vấn đề chưa nhất trí. Theo tinh thần này, việc được biết nội dung dự thảo kết luận không phải là quyền đương nhiên của đối tượng thanh tra. Người ra quyết định thanh tra có quyền cân nhắc xem có cần thiết phải gửi dự thảo kết luận cho đối tượng thanh tra biết nội dung hay không.
|
Liên quan đến việc xử lý kết luận sau thanh tra, Luật Thanh tra quy định kê biên, phong tỏa tài sản để đảm bảo thi hành quyết định thanh tra. Tuy nhiên, với những kết luận thanh tra có hiệu lực trước ngày 1/7/2011 sẽ không tính đến việc kê biên này.
Hiện tại, Thanh tra Chính phủ đang bàn thảo với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan để tìm cách thực thi tốt nhất quy định này.
Tuy nhiên, nếu không thực hiện kết luận, kiến nghị thanh tra, đối tượng thanh tra sẽ bị kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại và sẽ phải bồi hoàn theo quy định của pháp luật nếu không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời kết luận thanh tra. |
LP