Sau gần 7 tháng điều tra theo quyết định của Tòa liên quan đến bị cáo Nguyễn Thị Thu (SN 1975, trú tại xã Trung Kiên, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc), Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc đã có bản kết luận điều tra mới. Thế nhưng, những yêu cầu của Toà nhằm chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Thu đã không được CQĐT làm rõ trong bản kết luận này.
|
|
|
Mẹ con chị Thu tại phiên tòa sơ thẩm. |
Không điều tra được thì lấp lửng
Như Báo GĐ&XH đã phản ánh, trong các ngày từ 22-29/3, TAND huyện Yên Lạc đã tiến hành xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu tội huỷ hoại tài sản. Tuy nhiên, sau nhiều ngày xét xử công khai, thẩm định nhiều nhân chứng, tài liệu khác nhau, thẩm phán Trần Quốc Hồng (chủ tọa phiên tòa) đã ra quyết định trả hồ sơ, yêu cầu VKS cùng cấp điều tra bổ sung những mâu thuẫn trong vụ án.
Gần 7 tháng tiến hành điều tra bổ sung, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã có bản Kết luận điều tra số 92/KLĐT ngày 17/9/2011 vẫn tái khẳng định chị Thu có hành vi "Huỷ hoại tài sản". Qua nghiên cứu bản kết luận điều tra, chúng tôi nhận thấy phần lớn những yêu cầu của Toà đã không được CQĐT làm rõ.
|
Cho rằng cô Trần Thị Hương (trú tại xã Trung Kiên) xúi giục bố ly hôn mẹ nên sáng ngày 20/9/2009, cháu Nguyễn Mai Anh (con gái chị Thu) đã rủ em họ đến cửa hàng may của chị Hương hắt nước bẩn vào một số tấm vải.
Sau đó, chị Hương làm đơn gửi cơ quan Công an, tố cáo chị Thu hắt nước bẩn vào cửa hàng. Ngày 6/1/2010, Công an huyện Yên Lạc tiến hành khởi tố bị can đối với chị Thu tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Ngày 13/3/2010, chị Thu bị bắt tạm giam với thời hạn 2 tháng và sau đó được cho tại ngoại, chờ xét xử. |
Cụ thể: Liên quan đến những mâu thuẫn trong lời khai của nhân chứng và bị hại khi nhìn thấy chị Thu và con gái là cháu Nguyễn Mai Anh hắt nước bẩn vào cửa hàng may của chị Trần Thị Hương, kết luận lý giải: "Do mỗi người đứng ở vị trí khác nhau nên đã khai theo những gì nhìn thấy từng góc độ khác nhau". Tuy nhiên, bản kết luận này đã phải thừa nhận một số nhân chứng khai báo không đúng với thực tế của vụ án. Theo đó, những nhân chứng trước đây (chị Linh, chị Phượng) được CQĐT sử dụng làm căn cứ buộc tội chị Thu đã phải thừa nhận họ không trực tiếp chứng kiến việc chị Thu và cháu Mai Anh hắt nước bẩn vào cửa hàng của chị Hương mà chỉ nghe người khác kể lại. Giải thích về mâu thuẫn của chị Hương trong bản thống kê thiệt hại tài sản, CQĐT cho rằng "do tài sản chưa được kiểm đếm cụ thể nên đã ước đoán như vậy".
Tòa yêu cầu "Điều tra làm rõ ai là người cắt vỏ chai nhựa? Cắt ở đâu, ai là người pha nước bẩn? Vận chuyển đến hiệu may thế nào?". Về nội dung này, CQĐT đã phải thừa nhận bất lực, không làm rõ được. "Đây là nội dung CQĐT đã tập trung làm rõ, tuy nhiên việc phạm tội diễn ra bí mật, bị can không thành khẩn khai báo nên không làm rõ được"- Kết luận số 92 lấp lửng. Rõ ràng, lý giải của CQĐT về vấn đề này không thực sự thuyết phục. Bởi lẽ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh họ phạm tội, trách nhiệm này là của CQĐT. Mặt khác, theo Điều 72 (Bộ Luật TTHS) quy định: "Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội".
Trước nghi vấn đã có sự "sắp đặt hiện trường" nhằm buộc tội chị Thu, Toà đã yêu cầu CQĐT phải xác minh hiện trường vụ án từ 9 giờ ngày 20/9/2009 đến 16 giờ ngày 23/9/2009, ai là người quản lý, bảo vệ hiện trường? Bởi lẽ, sau khi Công an xã Trung Kiên lập biên bản (đến khoảng 9 giờ), chị Hương đã về nhà mẹ đẻ và khoá cửa lại, sau đó đem 2 chìa khoá nộp cho Công an xã. Thế nhưng, trong khoảng từ 12- 13 giờ cùng ngày, chị Oanh (thợ ảnh tự do) lại khai nhận được em gái chị Hương thuê đến chụp 4 kiểu ảnh. Về vấn đề này, kết luận điều tra giải thích có thể là do chị Oanh không nhớ chính xác. Vậy nhưng, cũng trong bản kết luận thừa nhận "CQĐT đã tiến hành làm việc với chị Oanh (thợ ảnh), chị Oanh vẫn khẳng định đến chụp ảnh tại hiệu may khoảng từ 12-13 giờ cùng ngày".
Ngụy biện
Một trong những chi tiết đáng chú ý trong bản Kết luận số 92 đó là những Công an viên xã Trung Kiên đột ngột thay đổi lời khai trước đó của họ. Giải thích về những thay đổi này, CQĐT cho rằng, do trình độ của những Công an viên còn hạn chế nên mới để xảy ra những thiếu sót, không thống nhất trong các lời khai.
Theo đó, "tại bút lục số 161, anh Tâm (Công an viên) ghi tại hiện trường có 2 viên gạch lục đặc, 1 viên bị vỡ 1/2, 1 viên còn nguyên (điều này mâu thuẫn với tang vật vụ án thu giữ 2 viên gạch lục đặc chưa vỡ)". Chi tiết này được CQĐT giải thích: "Anh Tâm khai do nhầm lẫn nên khai như vậy".
Một chi tiết khác, tại phiên toà sơ thẩm, anh Sơn (Công an viên) khẳng định bản ảnh chụp hiện trường của CQĐT là không đúng hiện trạng, nhiều vật chứng được thêm thắt, tráo đổi. Khi đó, cẩn trọng hơn, thẩm phán Trần Quốc Hồng đã đưa cho anh Sơn xem lại những tấm ảnh chụp hiện trường được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, vị Công an này một lần nữa tái khẳng định những tấm ảnh này không đúng với hiện trường ban đầu. Vậy nhưng, thật buồn khi trong bản kết luận điều tra mới CQĐT lại cho rằng: "Do trình độ hạn chế nên không có phương pháp lập biên bản hiện trường, mô tả kĩ khi thu giữ vật chứng. Về bức ảnh chụp như nêu trên, anh Sơn cho biết chủ toạ phiên toà cho xem ảnh, anh Sơn không nhìn rõ nên trả lời trước toà là không thấy".
Có thể thấy, bản Kết luận điều tra số 92 đã không làm rõ được những yêu cầu của Toà liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Thu. Phần lớn những nội dung trong bản kết luận này được CQĐT giải thích theo kiểu loanh quanh, thiếu thuyết phục.
Bình Minh