Bệnh phụ khoa – nguy cơ vô sinh ở phụ nữ
Bệnh phụ khoa là điều khó tránh khỏi đối với các chị em, đặc biệt trong độ tuổi sinh sản. Đây là bệnh rất dễ mắc phải nhưng không quá khó khăn trong việc chữa trị. Tuy nhiên, viêm nhiễm phụ khoa sẽ kéo theo các biến chứng nguy hiểm như ảnh hưởng đến sinh sản, thậm chí là vô sinh ở nữ giới nếu không được xử lý đúng cách và kịp thời.
Bệnh phụ khoa là gì?
Bệnh phụ khoa là từ dùng để chỉ một nhóm các bệnh lý liên quan đến cơ quan sinh dục nữ bao gồm viêm nhiễm cơ quan sinh dục ngoài (âm hộ, âm đạo, cổ tử cung) và viêm nhiễm cơ quan sinh dục trong (tử cung, vòi trứng, buồng trứng…).
Bệnh phụ khoa thường gặp ở hơn 90% nữ giới trong độ tuổi sinh sản, nhất là nhóm phụ nữ đã lập gia đình hoặc đã phát sinh quan hệ tình dục. Tuy nhiên đối với các chị em chưa quan hệ tình dục cũng có tỷ lệ mắc bệnh không nhỏ khoảng 15-20%.
Đây là căn bệnh thầm kín khiến nhiều chị em khi có tâm lý ngại đi khám dẫn đến bệnh tiến triển nặng, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng như: nhiễm nấm âm đạo, nhiễm khuẩn âm đạo, viêm lộ tuyến cổ tử cung, viêm phần phụ, viêm tắc, ứ nước vòi trứng gây vô sinh, thậm chí viêm phúc mạc tiểu khung…

Bệnh phụ khoa có thể dẫn đến vô sinh? (ảnh minh hoạ)
Bệnh phụ khoa không chỉ khiến phụ nữ thiếu tự tin trong giao tiếp mà còn tác động tiêu cực tới đời sống hôn nhân, ảnh hưởng đến trực tiếp đến thiên chức làm mẹ.
Nguyên nhân gây ra bệnh phụ khoa
Bệnh phụ khoa có thể bắt nguồn từ nhiều thói quen trong cuộc sống, cũng có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác. Trong nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học đã chỉ ra các tác nhân và nguy cơ gây viêm nhiễm âm đạo như:
- Khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn hoạt động nhất là vi khuẩn vùng âm đạo.
- Thói quen sử dụng quần lót chật, chất liệu không thoáng khí, thụt rửa sâu vào trong âm đạo
- Thói quen ăn uống sinh hoạt không khoa học, stress, sự thay đổi môi trường sống đột ngột...
- Sử dụng các dung dịch vệ sinh không đảm bảo chất lượng hoặc không phù hợp với cơ địa.
- Quan hệ tình dục không an toàn.
- Có tiền sử nạo, hút thai, sảy thai hoặc các can thiệp phẫu thuật vùng sinh dục…
- Mất cân bằng nội tiết tố.
- Mắc các bệnh viêm nhiễm đường tiết niệu, các bệnh suy giảm miễn dịch, sức đề kháng kém, dùng một số loại thuốc như thuốc tránh thai, thuốc kháng sinh... gây ra mất cân bằng hệ vi sinh vật thường trú và độ pH tại âm đạo.
Độ pH âm đạo và mối liên quan đến các bệnh phụ khoa
Bình thường môi trường âm đạo có tính hơi axit. Độ pH âm đạo dao động từ 3.8 đến 4.5 kèm theo đó là hệ vi khuẩn phong phú bao gồm cả lợi khuẩn âm đạo và hại khuẩn ở trạng thái cân bằng. Sở dĩ độ pH âm đạo ở ngưỡng axit là do chủng Lactobacillus – một loại vi khuẩn thường thú trong âm đạo giúp giải phóng hydro peroxide và axit lactic. Nhờ đó mà âm đạo chống lại được nhiều loại vi khuẩn có hại, nấm men và các tác nhân gây bệnh khác.
Lợi khuẩn âm đạo giúp duy trì độ pH sinh lý của phụ nữ (ảnh minh hoạ)
Độ pH sinh lý âm đạo có thể thay đổi trong suốt cuộc đời của một người và theo độ như sau:
- Độ pH âm đạo > 4.5 gặp ở bé gái chưa dậy thì và phụ nữ sau khi mãn kinh.
- Độ pH âm đạo < 4.5 ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Khi môi trường vùng âm đạo có độ pH tăng lên (tức là giảm tính axit) sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây viêm nhiễm âm đạo phát triển.
Độ pH âm đạo càng axit sẽ giúp loại bỏ các tác nhân gây viêm nhiễm âm đạo. Tuy nhiên, ngưỡng pH quá axit cũng dễ gây ra những vấn đề trở ngại liên quan đến khả năng sinh sản, nhất là khi pH< 3.8.
Chính bởi vì ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe sinh sản, các bệnh lý phụ khoa mà việc đảm bảo cân bằng pH âm đạo và duy trì số lượng lợi khuẩn âm đạo cần có trở nên đặc biệt quan trọng với nữ giới.
Phòng tránh bệnh phụ khoa
Để duy trì trạng thái cân bằng pH âm đạo cũng như môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có lợi trú ẩn giúp bảo vệ cơ thể, bạn có thể thực hiện một số biện pháp dưới đây:
- Tránh sử dụng các sản phẩm có tính kiềm (xà phòng) để vệ sinh vùng kín và thụt rửa âm đạo. Xà phòng thường có độ pH cao và sử dụng chúng để làm sạch khu vực âm đạo có thể làm tăng pH âm đạo. Tốt nhất là sử dụng nước ấm và chất tẩy rửa nhẹ nhàng, không thụt rửa sâu vào âm đạo…
- Bổ sung men vi sinh, lợi khuẩn Lactobacillus hoặc các viên đặt chứa Probiotic giúp phục hồi mật độ vi khuẩn tự nhiên của âm đạo.
- Thay băng vệ sinh hoặc tam-pon thường xuyên, ít nhất 3 lần/ngày trong thời kì hành kinh. Nếu để quá lâu có thể làm tăng độ pH âm đạo vì độ pH của máu thường >7.
- Sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục không chỉ giúp tránh thai, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục mà còn có thể ngăn ngừa tinh dịch và các chất lỏng khác ảnh hưởng đến độ pH âm đạo.
- Bổ sung estrogen ở những phụ nữ bị thiếu hụt.
- Sử dụng nguồn nước sạch để vệ sinh vùng kín.
Theo SK&ĐS
2 lần mang thai ngoài tử cung, người phụ nữ khủng hoảng tâm lý sau khi mất khả năng sinh con tự nhiên
Dân số và phát triển - 10 giờ trướcGĐXH - Mất hoàn toàn cơ hội mang thai tự nhiên khiến chị Xuân rơi vào khủng hoảng tâm lý.
Người phụ nữ 46 tuổi phát hiện mắc ung thư cổ tử cung từ dấu hiệu rất nhỏ, dễ bị bỏ qua
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Theo các bác sĩ, ung thư cổ tử cung là bệnh có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị ở giai đoạn đầu.
Đang khỏe mạnh, đi khám tiền hôn nhân, cặp đôi Hà Nội ngỡ ngàng phát hiện mang gen bệnh tan máu bẩm sinh
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Dù hoàn toàn khỏe mạnh và không có tiền sử gia đình mắc bệnh di truyền, một cặp đôi trẻ bất ngờ phát hiện cùng mang gen Thalassemia thể ẩn khi đi khám tiền hôn nhân.
Từ 1/7, Luật Dân số chính thức có hiệu lực với những điểm mới đáng chú ý
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Luật Dân số được Quốc hội bấm nút thông qua ngày 10/12/2025 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Nội dung Luật có nhiều điểm đột phá với trọng tâm chính sách được chuyển từ "kế hoạch hóa gia đình" sang "dân số và phát triển".
4 năm sau điều trị ung thư cổ tử cung, người phụ nữ phát hiện thêm ung thư vú
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Sau 4 năm điều trị ổn định ung thư cổ tử cung, người phụ nữ 68 tuổi phát hiện khối u ngày ở vú phải. Kết quả thăm khám và sinh thiết xác định bà mắc ung thư biểu mô nhầy tuyến vú.
Bé trai 11 tuổi mặc cảm vì dị tật vùng kín, gia đình hối tiếc vì trì hoãn điều trị vì nghĩ trẻ lớn lên sẽ tự khỏi
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Dù được bác sĩ tư vấn can thiệp từ sớm, nhưng đến tuổi dậy thì, bé trai 11 tuổi mới được phẫu thuật chỉnh hình để khắc phục tình trạng vùi dương vật bẩm sinh.
Bài toán kinh tế và gánh nặng chi phí y tế đè nặng lên vai người cao tuổi
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Bên cạnh những thách thức lớn về sức khỏe thể chất, thực trạng đời sống kinh tế bấp bênh và áp lực chi phí y tế đắt đỏ đang là rào cản lớn nhất đối với một bộ phận không nhỏ người cao tuổi tại Việt Nam trên hành trình an hưởng tuổi già.
Làn sóng 'già hoá' nhanh chóng và xu hướng lệch giới tính ở nhóm người cao tuổi Việt Nam
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Việt Nam đang đứng trước bước chuyển dịch với tốc độ già hóa dân số thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Trong đó, sự gia tăng vượt trội của nhóm người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên cùng xu hướng "femi-ization" (nữ hóa) ở tuổi già đang đặt ra những bài toán hóc búa cho hệ thống an sinh.
Mãn kinh rồi có mắc ung thư cổ tử cung không?
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcSKĐS - Nhiều phụ nữ cho rằng khi đã mãn kinh và giảm tần suất quan hệ tình dục thì không còn nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung nữa. Chính sự chủ quan này khiến các dấu hiệu bệnh bị bỏ qua và tiến triển sang giai đoạn muộn.
Nghịch lý 'sống thọ nhưng chưa sống khoẻ' và gánh nặng bệnh tật kép ở người cao tuổi Việt Nam
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcGĐXH - Tốc độ già hoá dân số nhanh chóng ở Việt Nam đang kéo theo những thách thức lớn về y tế, nổi bật là thực trạng người cao tuổi nước ta có tuổi thọ cao nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh lại tương đối thấp.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.