Hướng tới ngày Dân số VN 26/12: Nối tiếp những chặng đường vinh quang

| Dân số và phát triển

Giadinh.net - Với những nỗ lực vượt khó, ngành Dân số đã đạt được những thành tích đáng tự hào!

 
Hướng tới Ngày Dân số Việt Nam (26/12), Báo Gia đình & Xã hội trân trọng đăng bài viết của PGS.TS Đặng Nguyên Anh - Phó ban Quốc tế - Viện KHXH Việt Nam nhìn lại những chặng đường vinh quang của ngành Dân số Việt Nam thời gian qua...

Từ 1961 đến trước 1975 - Nỗ lực ban đầu

Trong thời kỳ này, giải pháp cơ bản là cung cấp dịch vụ KHHGĐ, tuyên truyền vận động, đồng thời có chế độ khuyến khích phụ nữ đặt vòng. Kết quả đạt được của công tác dân số thời kỳ này chịu sự tác động của nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội nhưng đã khẳng định những nỗ lực hết mình của ngành dân số. Tỉ suất sinh thô ở miền Bắc đã giảm từ 43,9%o năm 1960 xuống còn 33,2%o năm 1975. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 6,39 con năm 1960 xuống còn 5,25 con năm 1975.
 

Thành công của sự nghiệp dân số có phần đóng góp đáng kể của những cán bộ, cộng tác viên dân số cơ sở.

Từ năm 1975 đến 1984 - Phong trào sâu rộng trên toàn quốc

Giai đoạn này, đất nước đã hoàn toàn thống nhất, dân số Việt Nam xấp xỉ 48 triệu người, tăng gần gấp đôi so với năm 1955. Công tác DS-KHHGĐ bắt đầu được triển khai trên phạm vi cả nước. Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh công cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch qua Chỉ thị số 265/CP và chỉ thị số 29/HĐBT. Công tác dân số được xác định là quốc sách trong sự nghiệp phát triển đất nước. Thời kỳ này, tỉ lệ gia tăng dân số ở các tỉnh miền Nam rất cao do hiện tượng tăng bù dân số sau chiến tranh. Những nỗ lực của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch đã góp phần quan trọng trong việc hạ thấp tỉ lệ gia tăng dân số. Tỉ suất sinh giảm từ 33,2%o năm 1975 xuống còn 30,8%o năm 1984. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 5,25 con năm 1975 xuống 3,85 con vào năm 1984.

Từ năm 1984 đến năm 1992- Những chuyển biến tích cực

Đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ là đầu tư cho sự phát triển bền vững.

Trước những thách thức kinh tế- xã hội do quy mô dân số tăng nhanh, Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã xác định: "Tình hình kinh tế- xã hội của đất nước đòi hỏi giảm tỉ lệ phát triển dân số từ 2,2% hiện nay xuống còn 1,7% vào năm 1990". Đến năm 1990, mục tiêu của chính sách dân số này chưa thực hiện được, và trong văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ VII tiếp tục nhấn mạnh: "Giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân". Tính đến năm 1992, dân số nước ta đã đạt gần 70 triệu người với số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 3,8 con.

Từ năm 1993 đến nay - Bước phát triển mới với tầm cao hơn

Trong thời kỳ này, cuộc vận động "Dừng ở hai con để nuôi và dạy cho tốt" đã thực sự trở thành phong trào trong cả nước. Kết quả công tác DS-KHHGĐ đã đạt được những chỉ tiêu đề ra. Theo tính toán, mức sinh trung bình hàng năm giảm 1%o, bằng mức đạt được của những nước thực hiện rất thành công chương trình DS-KHHGĐ và vượt so với chỉ tiêu Quốc hội giao

Việc ban hành Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 và Pháp lệnh Dân số đã khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc ổn định dân số. Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 được coi là chương trình hành động quốc gia trên đường hướng tới mục tiêu ổn định dân số.
 
PGS.TS Đặng Nguyên Anh
(Phó ban Quốc tế - Viện KHXH Việt Nam)
thuhuyen
Ý kiến của bạn

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.