Mất cân bằng giới tính khi sinh: Gia tăng những thách thức
Giadinh.net - Mặc dù đã đạt được mức giảm sinh nhưng công tác DS-KHHGĐ vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dân số, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh (SRB).
Theo báo cáo “Những thay đổi gần đây về tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam” do Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) mới xuất bản, SRB ở Việt Nam đã và đang trải qua thời kỳ tăng nhanh bất thường.
Tăng nhanh bất thường
![]() |
|
Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ để lại hậu quả cho cấu trúc dân số trong tương lai (Ảnh minh họa: Hà Thư). |
Theo phân tích của UNFPA, kể từ năm 2006, mỗi năm SRB Việt Nam tăng lên 1 điểm. Điều đó cho thấy, tỉ số này có thể vượt ngưỡng 115 điểm trong vòng 3 năm tới. Nếu sự mất cân bằng SRB tiếp tục tăng như vậy sau năm 2010, sẽ có tác động nặng nề đến thế hệ nam thanh niên được sinh ra sau năm 2005 vì khi họ bước vào độ tuổi lập gia đình vào những năm 2030 thì nhóm nam giới này sẽ dư thừa so với phụ nữ cùng lứa tuổi. Đến năm 2035, mức dư thừa nam giới trưởng thành có thể sẽ nhiều hơn số phụ nữ tối thiểu là 10% và thậm chí còn cao hơn nếu SRB không trở lại mức bình thường là 105 trẻ trai/100 trẻ gái trong vòng 2 thập kỷ tới.
Theo TS Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, sau khoảng 20 năm tới, sẽ có khoảng 3 triệu đàn ông Việt Nam không thể lấy vợ người Việt Nam. Do đó, sự khan hiếm phụ nữ sẽ gây thêm áp lực cho họ phải kết hôn ở độ tuổi trẻ hơn, có thể dẫn đến tăng nhu cầu mại dâm, cũng như mạng lưới buôn bán phụ nữ có thể sẽ lan rộng để đáp ứng với sự mất cân bằng này. Các trường hợp về bạo hành giới và buôn bán phụ nữ được ghi nhận ở Việt Nam đã chỉ ra những nguy cơ mà phụ nữ và trẻ em gái sẽ phải đối mặt.
Đằng sau những con số
|
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Cử - Viện trưởng Viện Các vấn đề xã hội, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, Việt Nam đã có 4/8 vùng địa lý và 33/63 tỉnh, thành phố có SRB trên 110 và có nguy cơ lan rộng. Và nếu không có các biện pháp can thiệp, ngăn ngừa, nó sẽ để lại hậu quả nặng nề cho cấu trúc dân số trong tương lai. |
Nguyên nhân trực tiếp ở đây là người dân muốn có con trai bằng mọi cách và họ đã sử dụng các điều kiện để thực hiện ý đồ ấy như siêu âm, bắt mạch... để chẩn đoán giới tính thai nhi. Còn nguyên nhân phụ trợ thứ nhất là do chúng ta chưa có chế độ an sinh tốt, nên người già vẫn trông cậy vào sự nuôi dưỡng của con cái, mà phong tục chung của người Á Đông là ở với con trai. Nguyên nhân phụ trợ thứ 2 là thời gian qua, mức sinh thấp của ta kéo dài, chúng ta đạt được thành công hết sức tốt đẹp trong việc giảm sinh. Số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hiện nay đạt 2,08 con (mức sinh thay thế). Vì vậy, sẽ xuất hiện mâu thuẫn, muốn chỉ có 1 – 2 con nhưng phải có con trai nên một số người dân cố tình đẻ con trai. Nếu không phải là con trai mà là con gái được họ phát hiện ra trong thời kỳ mang thai, khi thai còn nhỏ họ sẽ tìm cách loại bỏ. Nguyên nhân phụ trợ thứ 3 là chúng ta chưa có chính sách ưu tiên rõ rệt cho nữ giới, dù đã có bước tiến rõ rệt trong bình đẳng giới. Nguyên nhân phụ trợ thứ 4 là một số ngành nghề vẫn đòi hỏi phải có lao động là nam giới, nên nhiều người cần phải đẻ con trai ví như người dân vùng biển.
