Hà Nội
23°C / 22-25°C

Nhiễm chlamydia trachomatis sinh dục - tiết niệu và những hệ lụy

Thứ năm, 06:10 12/07/2018 | Dân số và phát triển

Chlamydia trachomatis là 1 trong 3 loài thuộc nhóm Chlamydia- nguyên nhân rất quan trọng gây mù lòa và bệnh lây truyền qua đường tình dục.

C. trachomatis gây nhiễm khuẩn đường sinh dục có triệu chứng gần giống như bệnh lậu. Hơn nữa, rất nhiều người bệnh không có triệu chứng hay dấu hiệu đặc trưng bệnh, thậm chí không có triệu chứng, đặc biệt ở phụ nữ.

Ngoài ra, có tới trên 40% số bệnh nhân nhiễm C. trachomatis không có triệu chứng và rất nhiều người trong tuổi hoạt động tình dục bị nhiễm C. trachomatismà không đi khám chữa bệnh vì không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nghèo nàn.

Do vậy, nhiều trường hợp xảy ra biến chứng mới biết mình bị bệnh và những người không triệu chứng là nguồn lây cho cộng đồng.

Tác nhân gây bệnh

Chlamydia là vi khuẩn nội tế bào do không có khả năng tổng hợp các hợp chất có năng lượng cao (ATP và GTP). Nó khác với tất cả loài vi khuẩn khác ở điểm căn bản là có chu kỳ nhân lên khác thường. Chu kỳ kế tiếp nhau với hai hình thái rất đặc biệt để đáp ứng với đời sống nội tế bào và ngoại tế bào. Chu kỳ nhân lên của chlamydia khoảng 48 - 72 giờ, tế bào bị phá hủy và giải phóng ra thể cơ bản nhiễm trùng.

Loài này có ba biến thể sinh học khác nhau về biểu hiện lâm sàng và sinh học. Biến thể bệnh mắt hột (trachoma - serovars A, B và C) gây bệnh mắt hột, loại gây các bệnh đường sinh dục ở người (viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung, viêm vòi trứng, bệnh lý ở tử cung...) mà chủ yếu gây viêm niệu đạo có triệu chứng và không triệu chứng. Biến thể bệnh hột xoài có cùng nhóm huyết thanh với bệnh mắt hột nhưng có bệnh cảnh lâm sàng xâm nhập lan tràn gây tổn hại nhiều hơn ở vùng sinh dục - tiết niệu.

C. trachomatis gây nhiễm khuẩn đường sinh dục
C. trachomatis gây nhiễm khuẩn đường sinh dục

Nhận diện khi nhiễm C. trachomatis

Biểu hiện lâm sàng của bệnh gần giống với bệnh lậu. Cả hai loại vi khuẩn này thường gây nhiễm tế bào biểu mô lát trụ của niệu đạo rồi lan lên mào tinh hoàn, cổ tử cung - niêm mạc tử cung, vòi trứng, phúc mạc và trực tràng. Cả hai vi khuẩn đều có thể gây viêm dưới biểu mô, loét biểu mô và gây sẹo. Tuy nhiên, C. trachomatis ít gây nhiễm khuẩn toàn thân. Thời gian ủ bệnh khoảng 7 - 21 ngày. Phụ nữ thường không có triệu chứng hoặc triệu chứng không điển hình nên khó xác định thời gian ủ bệnh.

Đối với nam giới:

Biểu hiện nhiễm C. trachomatis ở nam chủ yếu là viêm niệu đạo. Ở các bệnh nhân bị viêm niệu đạo không do lậu có khoảng 35 - 50% do C. trachomatis. Triệu chứng của bệnh là đi tiểu khó (đái buốt, đái rắt, đau khi đi tiểu) và tiết dịch niệu đạo, dịch nhầy màu trắng đục hay trắng trong, số lượng ít đến vừa.

Khám thấy miệng sáo đỏ, viêm nề, không thấy các bệnh lý khác như sưng hạch bẹn, các ổ đau trong niệu đạo, các thương tổn bệnh herpes ở miệng sáo và dương vật. Thời gian ủ bệnh khá dài 7 - 21 ngày, trái với bệnh lậu 3 - 5 ngày. Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng bệnh.Một điều cần chú ý là viêm niệu đạo sau lậu không do lậu thường do C. trachomatis. Các bệnh nhân này có khả năng mắc cùng một lúc cả hai bệnh nhưng bệnh do chlamydia có thời gian ủ bệnh dài hơn và điều trị lậu không diệt được chlamydia.Tỉ lệ mắc cùng lúc hai bệnh này là 15 - 35%.

C. trachomatis cũng là nguyên nhân chủ yếu gây viêm mào tinh hoàn mà trước đây cho rằng không rõ căn nguyên. Biểu hiện lâm sàng là đau một bên bìu, phù nề, nhạy cảm đau và sốt - thường có viêm niệu đạo. Tuy vậy, có khi không có triệu chứng của viêm niệu đạo kèm theo. Điều trị bằng tetraxyclin, bệnh tiến triển tốt, điều đó ủng hộ cho quan điểm cho rằng C. trachomatis là căn nguyên gây bệnh. Vai trò gây bệnh của C. trachomatis trong viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn chưa được rõ.Hội chứng Reiter gồm các triệu chứng viêm niệu đạo, viêm kết mạc mắt, viêm khớp và các thương tổn đặc trưng ở da, niêm mạc có liên quan đến nhiễm trùng C. trachomatis.

Đối với phụ nữ:

Đa số bệnh nhân không có biểu hiện các dấu hiệu và triệu chứng của viêm cổ tử cung, khoảng 1/3 có dấu hiệu tại chỗ. Các dấu hiệu thường gặp là tiết dịch nhầy mủ và lộ tuyến phì đại với biểu hiện phù nề, sung huyết và dễ chảy máu. Khám lâm sàng cổ tử cung thấy cổ tử cung dễ chảy máu, có dịch mủ tử cung và phù nề ở vùng lộ tuyến phì đại cổ tử cung.

Viêm niệu đạo do C. trachomatis có thể được nghĩ đến ở những người phụ nữ trẻ ở tuổi hoạt động tình dục mạnh mà có đi tiểu khó, đái rắt và mủ niệu, đặc biệt khi bạn tình của họ có triệu chứng viêm niệu đạo hoặc có bạn tình mới. Viêm niệu đạo biểu hiện triệu chứng gồm có tiết dịch niệu đạo, miệng niệu đạo đỏ hoặc phù nề.

Ở những người có dịch tiết cổ tử cung có kèm theo đái khó, đái rắt là gợi ý việc bệnh nhân đồng thời bị viêm niệu đạo do C. trachomatis. Tuy nhiên, đại đa số bệnh nhân bị viêm niệu đạo do C. trachomatis không có triệu chứng lâm sàng. Cũng như lậu cầu, C. trachomatis gây viêm xuất tiết ống tuyến Bartholin. Viêm tuyến Bartholin có mủ có thể do C. trachomatis đơn thuần hay phối hợp với lậu cầu.

Chlamydia - nguyên nhân rất quan trọng gây mù lòa
Chlamydia - nguyên nhân rất quan trọng gây mù lòa

Có tới gần một nửa số bệnh nhân viêm cổ tử cung và hầu hết số viêm vòi trứng bị viêm nội mạc tử cung. Vi khuẩn lan qua niêm mạc tử cung lên vòi trứng. Sốt sau khi đẻ và viêm nội mạc tử cung sau đẻ thường do không điều trị C. trachomatis khi mang thai. Viêm vòi trứng cũng là biến chứng của viêm cổ tử cung do C. trachomatis. Tuy vậy, triệu chứng rất nghèo nàn hoặc không có triệu chứng. Hậu quả sẹo ống dẫn chứng gây nên chửa ngoài tử cung và vô sinh.

Chẩn đoán và điều trị

Đối với nam giới: bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng cũng cần xét nghiệm cho các bệnh nhân lậu, viêm niệu đạo không do lậu và các bệnh nhân lây truyền qua đường tình dục khác vì nhiều trường hợp không có triệu chứng. Xét nghiệm nhuộm Gram thấy >5 bạch cầu đa nhân/vi trường độ phóng đại 1000X, không có song cầu Gram (-). Nuôi cấy tìm lậu cầu, làm PCR, LCR, TMA hoặc ELISA.

Đối với phụ nữ: có tiền sử phơi nhiễm với C. trachomatis (có quan hệ tình dục hoặc bạn tình có dấu hiệu, triệu chứng bệnh) và có biểu hiện một số triệu chứng (viêm cổ tử cung tiết dịch nhày mủ, viêm niêm mạc tử cung, viêm tiểu khung, viêm niệu đạo, viêm trực tràng) cần được xét nghiệm. Xét nghiệm dịch cổ tử cung>30 bạch cầu đa nhân/vi trường độ phóng đại 1000X, không có song cầu Gram (-). Nuôi cấy tìm lậu cầu, làm PCR, LCR, TMA hoặc ELISA.

Các phụ nữ có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh cần được xét nghiệm sàng lọc: bệnh nhân đến các phòng khám bệnh lây truyền qua đường tình dục, phụ khoa, phụ nữ sảy thai, người có nhiều bạn tình. Điều đáng lưu ý, bệnh nhân cần tuân thủ điều trị và có thể áp dụng chữa cho bạn tình của bệnh nhân.

Theo PGS.TS. Nguyễn Duy Hưng/SK&ĐS

Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 11 giờ trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 12 giờ trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Sinh con sau 35 tuổi: Bác sĩ chỉ rõ những rủi ro cần biết và độ tuổi 'vàng' để sinh con

Sinh con sau 35 tuổi: Bác sĩ chỉ rõ những rủi ro cần biết và độ tuổi 'vàng' để sinh con

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Không chỉ khó thụ thai, phụ nữ sinh con sau 35 tuổi còn phải đối mặt với nhiều rủi ro trong thai kỳ.

Thai phụ 24 tuổi nguy cơ tiền sản giật dù không triệu chứng, bác sĩ cảnh báo việc nhiều người Việt bỏ qua

Thai phụ 24 tuổi nguy cơ tiền sản giật dù không triệu chứng, bác sĩ cảnh báo việc nhiều người Việt bỏ qua

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Không đau bụng, không ra máu, các chỉ số lâm sàng ổn định nhưng qua sàng lọc chuyên sâu, thai phụ 24 tuổi vẫn được xác định nguy cơ cao tiền sản giật.

Bé 13 tuổi tình cờ phát hiện ung thư tuyến giáp di căn từ 1 dấu hiệu nhiều người Việt mắc phải

Bé 13 tuổi tình cờ phát hiện ung thư tuyến giáp di căn từ 1 dấu hiệu nhiều người Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Trường hợp bé 13 tuổi phát hiện ung thư tuyến giáp vì đau họng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về ung thư tuyến giáp ở trẻ em thừa cân, béo phì.

Sinh con trước tuổi 35: Bác sĩ chỉ rõ thời điểm 'vàng' sinh con giúp mẹ khỏe, con phát triển tốt

Sinh con trước tuổi 35: Bác sĩ chỉ rõ thời điểm 'vàng' sinh con giúp mẹ khỏe, con phát triển tốt

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Chuyên gia chỉ ra "thời điểm vàng" sinh con trước tuổi 35. Việc lựa chọn thời điểm sinh có liên quan trực tiếp đến sức khỏe sinh sản, chất lượng dân số và tương lai của thế hệ sau.

Quảng Ninh quán triệt Luật Dân số, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác dân số

Quảng Ninh quán triệt Luật Dân số, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác dân số

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

Nhằm nâng cao nhận thức và thống nhất triển khai Luật Dân số trong tình hình mới, Chi cục Dân số tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội nghị quán triệt và cung cấp thông tin dân số – phát triển năm 2026.

Từ ca sinh con ở tuổi 60: Bác sĩ khuyến cáo vì sao nên sinh con trước tuổi 35?

Từ ca sinh con ở tuổi 60: Bác sĩ khuyến cáo vì sao nên sinh con trước tuổi 35?

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Trường hợp sản phụ sinh con ở tuổi 60 đã gióng lên cảnh báo về những rủi ro khi mang thai ở tuổi lớn. Các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ nên sinh con trước 35 tuổi để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Sản phụ 29 tuổi vỡ tử cung trong đêm thừa nhận 1 sai lầm nhiều phụ nữ Việt mắc phải

Sản phụ 29 tuổi vỡ tử cung trong đêm thừa nhận 1 sai lầm nhiều phụ nữ Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Sản phụ bị vỡ tử cung trong đêm có tiền sử sản phụ khoa phức tạp, nhưng trong thai kỳ hiện tại đã không khám thai định kỳ theo khuyến cáo.

5 cách giúp phụ nữ làm chủ cơn bốc hỏa thời kỳ mãn kinh

5 cách giúp phụ nữ làm chủ cơn bốc hỏa thời kỳ mãn kinh

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

Cơn bốc hỏa là 'nỗi ám ảnh' của phụ nữ mãn kinh, gây bào mòn sức khỏe và tâm lý. Việc thấu hiểu cơ chế cùng các liệu pháp từ lối sống đến y khoa sẽ giúp phụ nữ tìm lại sự cân bằng, tự tin bước qua giai đoạn này một cách nhẹ nhàng hơn.

Top