"Nóng" chuyện bao cao su

| Dân số và phát triển

GiadinhNet - Vấn đề “nóng” này được đặt ra tại Hội thảo định hướng chương trình tổng thể BCS tại Việt Nam do Tổng cục DS-KHHGĐ vừa tổ chức.

Với tác dụng “kép” vừa tránh thai, vừa phòng chống các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục nên tổng nhu cầu về bao cao su ngày càng tăng. Tuy nhiên, dự báo sau năm 2010, nước ta sẽ thiếu số lượng lớn BCS.
 
Nguồn cung cấp thiếu hụt

Theo ông Chu Quốc Ân – Phó Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, tại Việt Nam tỉ lệ nhiễm HIV ở nữ đã tăng nhanh, lên tới 30% trong tổng số nhiễm. Theo các khảo sát, nữ bán dâm đã dùng BCS nhiều hơn nhưng tỉ lệ thường xuyên không nhiều.

Hội thảo lần này với nhiệm vụ trọng tâm là định hướng chương trình BCS tại Việt Nam. Ảnh: Hà Thư

 
Theo điều tra của Dự án phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam tại 9/21 tỉnh, thành triển khai dự án, hiện có 30 loại BCS khác nhau được phân phối với giá từ 1.000 – 30.000 đồng/chiếc, phổ biến là 2.000 – 3.000 đồng/chiếc; người bán dâm chỉ chấp nhận loại 500 – 1.000 đồng và họ rất ngại mua BCS trong các hiệu thuốc.

“Cần quảng bá với nhóm nam giới di biến động, lái xe, làm ăn xa nhà có nguy cơ cao. Chúng tôi đề nghị sử dụng BCS làm phương tiện tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV. Với những đối tượng chưa kết hôn, đàn ông đã có 2 con càng khuyến khích dùng BCS” – ông Ân nhấn mạnh.

Tác dụng “kép”

Đánh giá về giá trị của các biện pháp tránh thai (BPTT), đặc biệt là tác dụng “kép” của BCS, TS Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, BCS đã góp phần đưa tổng tỉ suất sinh đạt mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua, góp phần đạt và vượt các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về dân số, chăm sóc SKSS, phòng chống HIV/AIDS, trong đó có một số chỉ tiêu đạt vượt mức kế hoạch đề ra...

Theo TS Dương Quốc Trọng, tỉ lệ sử dụng các BPTT đã đạt mức cao nhất vào năm 2008 là 79,5% trong đó sử dụng BPTT hiện đại là 68,8% và dự kiến đạt chỉ tiêu chiến lược vào năm 2010 là 70%.

Với thực trạng nhu cầu sử dụng BCS ngày càng tăng, ông Ân cũng lo ngại về nguồn cung cấp. Theo ước tính, nhu cầu BCS sẽ bị thiếu hụt khoảng 168 triệu chiếc vào năm 2010 và 188 triệu chiếc năm 2011. Hiện tại, nguồn BCS hỗ trợ cho chương trình phòng chống HIV/AIDS từ nay đến cuối năm 2010 chủ yếu do chương trình PEPFAR hỗ trợ.

Cần một chương trình tổng thể

Ông Đỗ Ngọc Tấn - Vụ trưởng Vụ DS-KHHGĐ, Tổng cục DS-KHHGĐ cho hay, tỉ lệ sử dụng BCS ngày càng tăng góp phần thay đổi cơ cấu sử dụng các BPTT. Nếu năm 1998, tỉ lệ sử dụng BCS là 5,6% thì năm 2008, tỉ lệ này đã tăng gần gấp đôi. Với số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng tăng nhanh, tổng nhu cầu BCS để tránh thai, phòng chống bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV ngày càng lớn.
 
Giai đoạn 2011 – 2015, Việt Nam dự kiến cần khoảng 2,3 tỉ BCS, ước tính 57,5 triệu USD. Nguồn BCS để đáp ứng nhu cầu trước năm 2009 chủ yếu phụ thuộc viện trợ, nhưng sau năm 2010 các nguồn này không còn nữa.
 
Ông Tấn cho biết, sau năm 2010 chưa có nhà tài trợ nào cam kết viện trợ BCS cho chương trình dân số và sức khỏe sinh sản và chỉ có 62 triệu BCS do PEPFAR hỗ trợ cho phòng chống HIV/AIDS.

Ông Nguyễn Đức Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ Văn xã, Bộ KH&ĐT cho biết, thời gian tới, ước tính nước ta cần khoảng 500 triệu BCS cho mỗi năm nhưng kinh phí của nhà nước chỉ đáp ứng được 100 triệu. Dù tiếp thị xã hội (TTXH) BCS thời gian qua làm tốt, số người tự bỏ tiền mua BCS tăng lên, song với những đối tượng là người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, thì việc sử dụng các BPTT trong đó có BCS vẫn hoàn toàn trông chờ vào các chương trình cấp phát miễn phí.

TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cho hay, hiện nay các đối tác tham gia TTXH BCS ngày càng tăng lên, việc xã hội hóa và chi trả của người dân cũng tăng dần. Tuy nhiên với những đối tượng khó khăn, Nhà nước vẫn sẽ tiếp tục hỗ trợ.

Trong những năm qua, các chương trình về KHHGĐ, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục sử dụng BCS nhưng chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ. “Vì thế, nhu cầu bức thiết đặt ra là chúng ta cần có một chương trình tổng thể để điều phối, quản lý, cung ứng, sử dụng BCS như thế nào cho tốt và hiệu quả nhất” – TS Dương Quốc Trọng nhấn mạnh.

Hiện UNFPA sẽ là đầu mối cho các tổ chức quốc tế và Bộ Y tế là đầu mối trong nước về các chương trình BCS. Tổng cục DS-KHHGĐ được Bộ trưởng Bộ Y tế giao là cơ quan đầu mối để thực hiện chương trình tổng thể BCS ở Việt Nam.

“Có 55,5% gái mại dâm không sử dụng BCS với khách, 25,5% không sử dụng BCS trong những lần quan hệ tình dục gần nhất. Có trường hợp cho rằng: “Trời bắt ai nấy chịu, chẳng cần dùng cho tốn kém và “vướng”.
 
Số người mắc 3 trong 1 “HIV-ma túy-gái mại dâm” có những trung tâm lên tới 30%. Nhận thức về an toàn tình dục của chị em còn thấp, đôi khi còn nhận thức sai khi nghĩ có BCS trong người là bằng chứng có hành vi hoạt động mại dâm”.
 
Bà Lê Thị Hà
(Phó Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ LĐ,TB&XH)
 
Hiện nay có khoảng 85% khách hàng sử dụng BCS để tránh thai ngoài ý muốn được cung cấp qua hàng chục ngàn điểm bán hàng của kênh TTXH và thị trường tự do. Trong đó, các hiệu thuốc tư nhân đóng vai trò quan trọng.
 
Dự kiến từ năm 2011, ngân sách nhà nước chi mua BCS tránh thai chỉ còn dưới 30%, bao gồm mua BCS để cấp miễn phí và BCS TTXH do các tổ chức trong nước thực hiện. Tỉ lệ cấp BCS miễn phí sau năm 2010 là dưới 13% và tiếp tục giảm dần do tỉ lệ hộ nghèo ngày càng giảm.

Hà Anh

thuhuyen
Ý kiến của bạn

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.