Ổn định quy mô dân số khoảng 103-105 triệu người vào năm 2040: Cần duy trì mức sinh hợp lý
Giadinh.net - Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi) của Việt Nam tăng nhanh từ 21,5 triệu người năm 2000 lên 25,9 triệu người năm 2010 và đạt mức cực đại là 26,9 triệu người năm 2020.
Điều đó cho thấy, dân số Việt Nam đang trên đà tăng, nếu không duy trì mức sinh hợp lý, nguy cơ bùng nổ sẽ là rất lớn.
Mức sinh khác biệt khá lớn giữa các vùng, miền
|
Các chỉ tiêu cần đạt để duy trì mức sinh thấp, hợp lý
Đối với các tỉnh, thành có mức sinh thấp cần duy trì TFR ổn định khoảng 1,9 con trong giai đoạn 2011 – 2020; đối với các tỉnh, thành có nguy cơ tăng mức sinh cần phải tiếp tục giảm sinh để ổn định ở mức sinh thay thế; đối với các tỉnh, thành có mức sinh cao cần tiếp tục giảm nhanh mức sinh để nhanh chóng giảm mức sinh tiến tới đạt và duy trì ở mức sinh thay thế. - Tỉ lệ nạo phá thai giảm từ 0,9% hiện nay xuống còn 0,6% vào năm 2020. - Tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai đạt từ 80% trở lên và tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt 75% vào năm 2020. |
Trước hết, Việt Nam cũng như nhiều nước châu Á, người dân có tư tưởng thích sinh con trai hơn con gái, thích đông con nhiều cháu. Cùng đó, điều kiện kinh tế, an sinh xã hội của ta chưa đảm bảo được cho người già, nên nhiều người thích sinh nhiều con và mong muốn sinh bằng được con trai để nương tựa lúc tuổi già. Một số người có tư tưởng đẻ bù để phòng “hao hụt” do tỉ lệ tai nạn và dịch bệnh còn cao...
![]() |
|
10 năm tới sẽ có 12,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (Ảnh: TL). |
Duy trì mức sinh thấp, hợp lý
|
Mật độ dân số Việt Nam
gấp 5 lần của thế giới
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, mật độ dân số Việt Nam tăng nhanh từ 235 người/km2 năm 2000 lên 259 người/km2 năm 2009, thuộc nhóm có mật độ dân số cao nhất thế giới (gấp 5 lần mật độ dân số của thế giới, gấp hơn 2 lần mật độ dân số của châu Á và gấp 1,8 lần mật độ dân số Trung Quốc). Diện tích đất canh tác bình quân đầu người ngày càng thu hẹp, còn dưới 0,1 ha/người, chỉ bằng 2/5 mức diện tích canh tác tối thiểu để đảm bảo an ninh lương thực theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lương thực Thế giới.
P.V |
Bài học kinh nghiệm của quốc tế cũng cho thấy, khi đạt mức sinh thấp, có nhiều yếu tố tiềm ẩn và sự khác biệt khá lớn giữa các vùng miền thì cần phải có chính sách, chiến lược đa dạng, linh hoạt uyển chuyển để điều chỉnh mức sinh hợp lý, tránh vấp phải thất bại hoặc là mức sinh tăng nhanh trở lại làm phá vỡ kết quả đạt được hoặc là mức sinh giảm xuống quá thấp. Từ những bài học kinh nghiệm đó, với nhiều “kịch bản” được các nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra dự báo, Tổng cục DS-KHHGĐ đã có phương án duy trì mức sinh thấp hợp lý là 1,9 con bình quân trong giai đoạn 2011 – 2020 để quy mô dân số đạt dưới 95 triệu người vào năm 2020 và ổn định ở mức dưới 105 triệu người vào khoảng năm 2040. Có chính sách uyển chuyển trong việc điều chỉnh mức sinh giữa các vùng miền và tập trung nguồn lực cho vùng có mức sinh cao, xã hội hóa đối với vùng có mức sinh thấp.
Công tác DS-KHHGĐ đang thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng có từ 1-2 con và ổn định kinh tế. Trong thời gian tới về mặt vĩ mô, công tác DS-KHHGĐ sẽ triển khai đồng thời các giải pháp trên cả 4 phương diện của dân số: Quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân cư; tập trung giải quyết đồng bộ các thách thức của cơ cấu “dân số già”, mất cân bằng giới tính khi sinh, tận dụng cho bằng được cơ cấu “dân số vàng”... Giải quyết tốt vấn đề quy mô, cơ cấu và phân bổ dân cư, Việt Nam sẽ làm tốt được vấn đề ưu tiên số 1 hiện nay là nâng cao chất lượng dân số, đặc biệt trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, nhằm thúc đẩy đất nước với bước tiến vượt bậc.
Hà Thư
