Quảng Ninh tổng kết 10 năm công tác DS-KHHGĐ: Giải quyết "bài toán tổng hợp"
GiadinhNet - "Bên cạnh nỗ lực để giải quyết những vấn đề nóng hổi về cơ cấu dân số, chất lượng dân số, Quảng Ninh còn phải tập trung kiểm soát mức sinh tăng trở lại, phấn đấu đạt mức sinh thay thế. Đây là bài toán tổng hợp cần lời giải của ngành Dân số và cả hệ thống chính trị của tỉnh"-
![]() |
|
Tài liệu truyền thông DS-KHHGĐ về với người dân vùng biển Quảng Ninh. Ảnh: Dương Ngọc. |
Những con số đáng lưu tâm
Báo cáo tại lễ tổng kết, ông Lê Minh Hải - Phó Giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Quảng Ninh cho biết: Công tác DS-KHHGĐ trong 10 năm qua đã được tích cực triển khai, căn bản đã hoàn thành các mục tiêu kế hoạch đề ra. Tại địa bàn Quảng Ninh, xu thế giảm sinh được duy trì, quy mô dân số ổn định, chất lượng dân số được nâng cao và cơ cấu dân số có bước chuyển biến ngày càng hợp lý.
Quảng Ninh đang trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng", tỷ suất sinh thô giảm xuống còn 16,69% vào năm 2010, trung bình mỗi năm giảm 0,3%. Tuy vậy, tỷ suất sinh tại các địa phương trong tỉnh không đồng đều, còn cao ở những huyện miền núi và đạt thấp ở những huyện, thị xã, thành phố đồng bằng. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 11,1% năm 2001 xuống còn 5,75% năm 2010. Con số này thấp hơn rất nhiều so với toàn quốc (tỷ lệ sinh con thứ 3 của toàn quốc là 16,1% - số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh thông tin: Tuổi thọ bình quân của dân số Quảng Ninh từ 69,3 tuổi (năm 2000) đã tăng lên 72,5 tuổi (2010). Điều kiện sống và chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao. Trong lĩnh vực công tác DS-KHHGĐ, nhiều mô hình nâng cao chất lượng dân số đã được triển khai thí điểm và từng bước mở rộng như: Mô hình sàng lọc trước sinh, sơ sinh; Mô hình kiểm tra và tư vấn sức khỏe sinh sản tiền hôn nhân; Mô hình chăm sóc sức khỏe vị thành niên/thanh niên; Mô hình nâng cao chất lượng người dân tộc thiểu số; Mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi...
Cơ cấu giới tính của Quảng Ninh trong những năm gần đây không có nhiều thay đổi, tỷ lệ nam chiếm 51,3% tổng số dân. Tuy nhiên, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh thì đang ở mức rất cao và ngày càng có sự chênh lệch lớn. Năm 2010, tỷ số giới tinh khi sinh là 115 trẻ nam/100 trẻ nữ (toàn quốc, 111,2/100). Để khắc phục tình trạng này, Quảng Ninh được Tổng cục DS-KHHGĐ cho triển khai Đề án giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.
Những kết quả trong công tác DS-KHHGĐ của tỉnh Quảng Ninh đã có tác động tích cực, làm cải thiện cơ bản tình trạng dân số và SKSS/KHHGĐ, góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương, như: Quy mô dân số gia tăng chậm lại; Tỷ lệ dân số phụ thuộc giảm nhanh và đạt được "cơ cấu dân số vàng"; Chất lượng dân số, tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt.
Khắc phục khó khăn
Bên cạnh thành tích đạt được, hầu hết báo cáo, tham luận tại hội nghị đều thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, tồn tại, hạn chế trong công tác DS-KHHGĐ suốt 10 năm qua ở Quảng Ninh.
Đáng chú ý nhất là sự chênh lệch khá lớn giữa các địa phương đồng bằng với miền núi của tỉnh. Vào thời điểm năm 2000, Quảng Ninh đã đạt mức sinh thay thế, nhưng theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tổng tỷ suất sinh trung bình của tỉnh đã tăng lên 2,2 con. Như vậy, Quảng Ninh không còn đạt được mức sinh thay thế. Tại các huyện miền núi, mức sinh còn cao, tỷ suất sinh giảm chậm và chưa thực sự vững chắc. Trong khi đó, tại các thị xã, thành phố, tỷ suất sinh luôn được giữ vững và thấp hơn tỷ suất sinh chung của toàn tỉnh. Sự chênh lệch về tỷ suất sinh giữa huyện cao nhất và huyện thấp nhất khá lớn (21,54% so với 14,97%). Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các huyện (cao nhất 18,39%, thấp nhất 0,94%).
Bên cạnh đó, chất lượng dân số chậm được cải thiện. Chỉ số phát triển con người tăng lên nhưng Quảng Ninh vẫn nằm trong nhóm các tỉnh có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình.
Một số đại biểu nêu lên các khó khăn trong công tác truyền thông dân số. Theo đó, tại một số huyện, nội dung hình thức truyền thông chưa thực sự phù hợp với đặc điểm đối tượng, vùng miền. Sản phẩm truyền thông chưa đáp ứng được cả chất và lượng, thiếu những sản phẩm dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Những hạn chế này phần nào gây khó khăn cho công tác truyền thông, giáo dục, làm gia tăng sự mất cân bằng vốn đã tồn tại giữa các địa phương của Quảng Ninh.
Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố và thị xã trực thuộc nhất của Việt Nam. Dân số thành thị chiếm tỷ lệ 52,52%, đứng thứ 3 toàn quốc, sau TP HCM và TP Đà Nẵng. Dù vậy, Quảng Ninh cũng có nhiều địa bàn đặc biệt khó khăn như Ba Chẽ, Đầm Hà với hơn 90% đồng bào dân tộc ít người và nhiều hộ nghèo. Ghi nhận những khó khăn này, TS. Lê Cảnh Nhạc - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cho rằng: Quảng Ninh là địa bàn chênh lệch cao trong phân bố dân cư với 80% diện tích là địa hình đồi núi, có nhiều khó khăn về biến động dân số và kiểm soát mức sinh nhưng thời gian qua đã đạt được nhiều thành công lớn trong công tác DS-KHHGĐ.
"Trong thời gian tới, bên cạnh nỗ lực để giải quyết những vấn đề nóng hổi về cơ cấu dân số, chất lượng dân số, Quảng Ninh còn phải tập trung kiểm soát mức sinh tăng trở lại, phấn đấu đạt mức sinh thay thế. Đây là bài toán tổng hợp cần lời giải của ngành Dân số và cả hệ thống chính trị của tỉnh" - TS. Lê Cảnh Nhạc phát biểu. |
Việt Nguyễn

Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố và thị xã trực thuộc nhất của Việt Nam. Dân số thành thị chiếm tỷ lệ 52,52%, đứng thứ 3 toàn quốc, sau TP HCM và TP Đà Nẵng. Dù vậy, Quảng Ninh cũng có nhiều địa bàn đặc biệt khó khăn như Ba Chẽ, Đầm Hà với hơn 90% đồng bào dân tộc ít người và nhiều hộ nghèo.