4 giai đoạn diễn biến của sởi cần biết để tránh bệnh trở nặng

| Y tế

GĐXH - Dịch sởi liên tục có những diễn biến phức tạp cùng với sự gia tăng số ca bệnh trên cả nước. Bộ Y tế đã có công văn hỏa tốc, chỉ đạo khẩn tới các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sởi.

Bệnh sởi diễn tiến nặng, nguy cơ tử vong cao

Bộ Y tế vừa ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sởi. Tại hướng dẫn này có một số điểm mới, trong đó có xét nghiệm, phân cấp điều trị… Trong quyết định do GS.TS Trần Văn Thuấn - Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia - ký, Bộ Y tế nêu rõ: Sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan mạnh do virus sởi gây ra. Bệnh có thể gây các biến chứng nặng dẫn đến tử vong. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, người lớn chưa tiêm hoặc tiêm phòng không đầy đủ cũng có nguy cơ mắc.

Sởi lây qua đường không khí, giọt bắn hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết hô hấp. Các triệu chứng điển hình của bệnh gồm sốt, viêm long đường hô hấp, viêm kết mạc và phát ban. Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não, viêm tai giữa, viêm loét giác mạc hoặc tiêu chảy, thậm chí tử vong.

Theo Bộ Y tế, vaccine sởi có hiệu quả phòng bệnh cao, phần lớn trẻ mắc sởi là chưa tiêm phòng vaccine sởi. Mặc dù đã có vaccine phòng bệnh, nhưng tỷ lệ mắc sởi hiện nay tại Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn được WHO quan tâm, tiếp tục coi là vấn đề y tế toàn cầu.

Tăng cường công tác phân luồng, thu dung, điều trị và kiểm soát lây nhiễm sởi trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Ngày 29/3, Bộ Y tế đã có văn bản hoả tốc gửi Giám đốc các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Thủ trưởng Y tế các Bộ về việc tăng cường công tác phân luồng, thu dung, điều trị và kiểm soát lây nhiễm sởi trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Bộ Y tế yêu cầu Giám đốc các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Thủ trưởng Y tế các Bộ chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý tiếp tục thực hiện các công việc trọng tâm sau:

> Xây dựng, rà soát, cập nhật Kế hoạch phòng, chống bệnh sởi trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó chuẩn bị sẵn sàng các phương án thu dung, cấp cứu, cách ly, điều trị trong tình huống gia tăng các trường hợp người nghi mắc sởi, người bệnh sởi đến khám bệnh và nhập viện, gia tăng các ca bệnh nặng, nguy kịch.

Bộ Y tế yêu cầu Giám đốc các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng y tế các Bộ nghiêm túc triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc thì báo cáo kịp thời về Bộ Y tế (Cục Quản lý Khám, chữa bệnh) để tổng hợp báo cáo lãnh đạo Bộ xem xét, hướng dẫn.

> Về truyền thông trong cơ sở khám, chữa bệnh, thực hiện các biện pháp truyền thông đa dạng (như qua loa phát thanh, poster, tờ rơi, website, fanpage..., hướng dẫn trực tiếp) để người bệnh, người nhà người bệnh, nhân viên y tế, học viên, sinh viên hiểu rõ về bệnh sởi và các biện pháp phòng, chống bệnh sởi, hiệu quả của tiêm vaccine phòng ngừa sởi.

> Đồng thời tổ chức hướng dẫn, khuyến cáo người nhà người bệnh, người nghi mắc sởi, người bệnh sởi áp dụng các biện pháp giảm lây lan bệnh như đeo khẩu trang, che miệng khi hắt hơi…

> Về tổ chức phân luồng sàng lọc, thu dung, cách ly, điều trị sởi, Bộ Y tế yêu cầu tổ chức phân luồng và bố trí khu khám riêng trong khoa khám bệnh cho người nghi mắc sởi và người bệnh sởi.

> Thực hiện phân cấp chuyên môn trong khám, chữa bệnh sởi theo đúng Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sởi được ban hành tại Quyết định số 1019/QĐ-BYT ngày 26/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

> Bố trí khu vực thu dung điều trị bệnh sởi cách ly tại khoa Truyền nhiễm, khoa Nhi hoặc các khu vực cách ly của các khoa lâm sàng.

Bộ Y tế yêu cầu, đối với các ca bệnh sởi nặng cần phải điều trị hồi sức tích cực, bệnh viện bố trí khu vực điều trị tại khoa/đơn vị Hồi sức tích cực, hoặc đơn vị/giường Hồi sức tích cực trong khoa Bệnh truyền nhiễm… và phải bảo đảm việc cách ly, kiểm soát nhiễm khuẩn để phòng lây nhiễm chéo.

Diễn biến lâm sàng thể điển hình của sởi thể hiện qua 4 giai đoạn

Theo Bộ Y tế, những trường hợp sau mắc sởi, có nguy cơ bệnh diễn tiến nặng hơn như: Trẻ dưới 12 tháng tuổi; người chưa tiêm phòng vaccine hoặc tiêm không đầy đủ; suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải; bệnh nền nặng; suy dinh dưỡng nặng; thiếu vitamin A; phụ nữ mang thai.

Nếu không phát hiện sớm dấu hiệu bệnh sởi để điều trị tích cực, bệnh có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng. Dưới đây là những dấu hiệu nhận diện bệnh sởi qua từng giai đoạn của bệnh.

- Giai đoạn ủ bệnh: Từ 7 đến 21 ngày (trung bình 10 ngày), triệu chứng xuất hiện sau khi phơi nhiễm 10-14 ngày;

- Giai đoạn khởi phát (giai đoạn viêm long): Trong 2 - 4 ngày. Trong giai đoạn này, người bệnh sốt cao, viêm long đường hô hấp trên (ho, chảy mũi) và viêm kết mạc. Có thể thấy hạt Koplik (dấu hiệu đặc trưng của bệnh sởi, thường có màu trắng/xám, kích thước nhỏ) có quầng ban đỏ nổi gồ lên trên bề mặt niêm mạc má (phía trong miệng, ngang răng hàm trên). Hạt Koplik thường xuất hiện một ngày trước phát ban và tồn tại 2 - 3 ngày sau khi ban xuất hiện;

- Giai đoạn toàn phát: Kéo dài 2 - 5 ngày. Thường sau khi sốt cao 3 - 4 ngày, ngườI bệnh bắt đầu phát ban dạng dát sẩn, khi căng da thì ban biến mất, xuất hiện từ sau tai, sau gáy, trán, mặt, cổ dần lan đến thân mình và tứ chi, cả ở lòng bàn tay và gan bàn chân. Ban có thể hợp lại đặc biệt là ở vùng mặt và thân mình. Khi ban mọc hết toàn thân thì thân nhiệt giảm dần;

- Giai đoạn hồi phục: Ban nhạt màu dần rồi sang màu xám, bong vảy phấn sẫm màu, để lại vết thâm vằn da hổ và biến mất theo thứ tự như khi xuất hiện. Nếu không xuất hiện biến chứng thì bệnh tự khỏi. Có thể có ho kéo dài 1 - 2 tuần sau khi hết ban.

Cũng theo Bộ Y tế, nếu mắc sởi không bị biến chứng thì có thể điều trị ngoại trú. Cụ thể, cách ly ca bệnh tại nhà: Nằm phòng riêng, hạn chế tiếp xúc, đeo khẩu trang thường xuyên. Bên cạnh đó, cần uống vitamin A liều cao theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu mắc bệnh nặng và bị biến chứng, cần được điều trị tại các cơ sở y tế để tránh nguy hiểm đến tính mạng.


P.V
Ý kiến của bạn
Vượt hơn 40 hải lý giữa đêm cứu thuyền viên người Nga bị xuất huyết não

Vượt hơn 40 hải lý giữa đêm cứu thuyền viên người Nga bị xuất huyết não

Y tế -

GĐXH - Một thuyền viên người Nga bất ngờ liệt nửa người khi tàu container đang di chuyển trên luồng hàng hải quốc tế. Để đưa bệnh nhân vào bờ sớm nhất, các bác sĩ đã vượt hơn 40 hải lý bằng ca nô giữa đêm, leo thang dây lên tàu giữa biển động và đưa bệnh nhân về điều trị thành công.

Hà Nội bắt đầu triển khai chiến dịch chuẩn hóa dữ liệu y tế, mỗi người dân có một Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID

Hà Nội bắt đầu triển khai chiến dịch chuẩn hóa dữ liệu y tế, mỗi người dân có một Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID

Y tế -

GĐXH - Hà Nội bắt đầu triển khai Chiến dịch làm sạch, làm giàu, chuẩn hóa dữ liệu chuyên ngành y tế và tạo lập, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID, với mục tiêu đến ngày 15/10/2026 bảo đảm mỗi người dân trên địa bàn có một Sổ sức khỏe điện tử.

Suýt thủng dạ dày vì nuốt hạt táo đỏ: Thói quen nhiều người vẫn chủ quan khi ăn

Suýt thủng dạ dày vì nuốt hạt táo đỏ: Thói quen nhiều người vẫn chủ quan khi ăn

Y tế -

GĐXH - Nhiều người nghĩ hạt trái cây nhỏ có thể tự theo đường tiêu hóa ra ngoài nên thường chủ quan khi lỡ nuốt phải. Tuy nhiên, chỉ một hạt táo đỏ có hai đầu sắc nhọn cũng đủ cắm sâu vào thành dạ dày, đe dọa gây thủng đường tiêu hóa và nhiễm trùng nếu không được xử trí kịp thời. Trường hợp của người phụ nữ 25 tuổi tại Hà Nội là lời cảnh báo về một tai nạn ăn uống tưởng nhỏ nhưng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm.

Mang thai nhờ IVF, sản phụ chỉ có một quả thận 'vượt cạn' an toàn tại Ninh Bình

Mang thai nhờ IVF, sản phụ chỉ có một quả thận 'vượt cạn' an toàn tại Ninh Bình

Y tế -

GĐXH - Các bác sĩ Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình vừa phẫu thuật lấy thai thành công cho sản phụ 36 tuổi mang nhiều dị tật bẩm sinh hiếm gặp, chỉ có một quả thận và mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Thai kỳ được xếp vào nhóm nguy cơ rất cao do có nhiều yếu tố bất lợi nhưng cả mẹ và bé đều an toàn.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.