5 điều chị em nên biết về ung thư buồng trứng

| Sống khỏe

Ung thư buồng trứng thường được chẩn đoán ở phụ nữ da trắng cao hơn so với phụ nữ thuộc các chủng tộc khác.

Những con số

Ung thư buồng trứng thường được chẩn đoán ở phụ nữ da trắng cao hơn so với phụ nữ thuộc các chủng tộc khác. Tại Mỹ, có 13,4 trường hợp trong 100.000 phụ nữ da trắng được chẩn đoán mắc UTBT hàng năm, 11,3 trường hợp trên 100.000 phụ nữ Tây Ban Nha, và 9,8 trường hợp trên 100.000 phụ nữ da đen hoặc châu Á.

Tỷ lệ sống 5 năm khi mắc ung thư buồng trứng là 43,7 %, nhưng tỷ lệ sống rất khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn mà một người phụ nữ được chẩn đoán. Theo NCI, 91,5 % bệnh nhân được chẩn đoán bệnh trước khi ung thư lan ra sẽ sống thêm được ít nhất là 5 năm, trong khi chỉ có 26,9% những người được chẩn đoán sau khi ung thư đã lan đến các bộ phận khác trong cơ thể tồn tại được 5 năm.

5 điều chị em nên biết về ung thư buồng trứng 1
Ảnh minh họa

Yếu tố nguy cơ ung thư buồng trứng

Theo NCI, các yếu tố nguy cơ lớn nhất cho phát triển ung thư buồng trứng là tiền sử gia đình. Phụ nữ sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng gấp ba lần nếu họ có chị em/ mẹ/ hay con gái gặp vấn đề với ung thư buồng trứng.

Một lý do khiến nguy cơ UTBT có cơ hội di truyền trong gia đình là một số gia đình có thể bị biến đổi phiên bản của gen BRCA1 và BRCA2. Những đột biến này làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng của một người phụ nữ: 15-40% phụ nữ có một gen BRCA1 hoặc BRCA2 đột biến sẽ được chẩn đoán ung thư buồng trứng trong cuộc đời họ, trong khi đó chỉ 1,4% phụ nữ trong dân số nói chung sẽ được chẩn đoán là UTBT. Phụ nữ có đột biến BRCA1 hoặc BRCA2 thường phát triển ung thư buồng trứng trước tuổi 50.

Tuy nhiên, vẫn còn 85 đến 90% trường hợp ung thư buồng trứng không có liên kết di truyền rõ ràng.

Thuốc kiểm soát sinh, liệu pháp thay thế hormone sau khi mãn kinh, và béo phì cũng có liên quan với nguy cơ gia tăng của bệnh. Nhìn chung, nguy cơ bệnh tật của một người phụ nữ gia tăng theo tuổi tác.

Rụng trứng và ung thư buồng trứng

Nguy cơ ung thư buồng trứng ở nữ giới dường như tăng lên so với số lượng trứng rụng. Trong quá trình rụng trứng, một trứng được giải phóng từ buồng trứng và bị cuốn vào ống dẫn trứng - và nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các chất lỏng thoát ra từ buồng trứng cùng với trứng chứa yếu tố tăng trưởng và các phân tử khác gây tổn hại DNA của các tế bào ống dẫn trứng gần đó, Tiến sĩ Ronny Drapkin, một trợ lý giáo sư bệnh lý học tại Trường Y Harvard cho biết.

Hơn nữa, bằng chứng cho thấy bệnh ung thư buồng trứng nguy hiểm, được gọi là ung thư huyết thanh cao cấp, thực sự bắt đầu khi các tế bào ở đầu của ống dẫn trứng, không tế bào trong buồng trứng tự biến thành ung thư.

Những phát hiện này giải thích các quan sát lâu nay rằng bất cứ điều gì làm giảm số lần rụng trứng của người phụ nữ cũng làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng của họ, Drapkin nói. Mang thai, cho con bú và thuốc kiểm soát sinh tạm thời đình chỉ tất cả các rụng trứng, và các nghiên cứu đã chứng minh được mối quan hệ của tất cả những yếu tố ấy giúp giảm nguy cơ ung thư buồng trứng như thế nào.

5 điều chị em nên biết về ung thư buồng trứng 2
Ảnh minh họa

Triệu chứng của ung thư buồng trứng

Một trong những lý do ung thư buồng trứng rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu là những triệu chứng phổ biến của nó gần tương tự như khi bạn gặp các vấn để về tiêu hóa.

Dưới đây là một số triệu chứng của ung thư buồng trứng:

- Chướng bụng, đầy hơi

- Khó chịu hoặc đau vùng chậu

- Khó tiêu dai dẳng, xì hơi hoặc buồn nôn

- Thay đổi thói quen đi tiêu, chẳng hạn như táo bón hoặc nhu cầu thường xuyên đi tiểu

- Chán ăn hoặc nhanh chóng cảm thấy no

- Tăng chu vi bụng hoặc quần áo bỗng chật hơn ở xung quanh vòng eo của bạn

Trong một nghiên cứu, xuất bản năm 2004 trong Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ, các nhà nghiên cứu so sánh phụ nữ đến thăm một phòng khám y tế không có ung thư buồng trứng với những người đã mắc.

Họ nhận thấy rằng sự kết hợp của đau bụng, đau vùng chậu, đầy hơi, táo bón và tăng kích thước vòng bụng thì nghiêm khắc hơn đáng kể ở những phụ nữ bị ung thư buồng trứng. Ví dụ, 43% phụ nữ bị ung thư buồng trứng đã có một sự kết hợp của đầy hơi, tăng kích thước vòng bụng và các triệu chứng tiết niệu, nhưng chỉ có 8% phụ nữ không có những triệu chứng ung thư. 

Xét nghiệm sàng lọc

Xét nghiệm sàng lọc đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc phát hiện ung thư buồng trứng. Khám phụ khoa kiểm tra vùng khung chậu được thực hiện bởi các bác sĩ có thể bao gồm kiểm tra buồng trứng, nhưng chúng thường không nắm bắt các khối u cho đến khi chúng đã phát triển lớn hơn.

Siêu âm qua ngả âm đạo, và các xét nghiệm máu đo mức độ của một phân tử được gọi là CA-125 đã được thử nghiệm.

Tuy nhiên, xét nghiệm này không phải là luôn chính xác và không đầy đủ cho chẩn đoán ung thư buồng trứng vì nó cũng tăng lên trong các bệnh lý không phải ung thư, chẳng hạn như bệnh lạc nội mạc tử cung và viêm ruột thừa. Ngoài ra, chụp X-quang hay quét CT, quét MRI cũng giúp tìm ra những dấu hiệu của bệnh ung thư ở các khu vực khác của cơ thể.

Nhưng so với tất cả thì phẫu thuật hoặc sinh thiết vẫn là thao tác cần thiết nhất giúp chẩn đoán tốt nhất các tế bào phát triển bất thường có phải là do ung thư có nguồn gốc từ buồng trứng hay không.
 
Theo Tri thức trẻ
lehuong
Bình luận (0)
Ý kiến của bạn

Cùng chuyên mục

Trẻ hết bệnh không có nghĩa đường ruột đã lành: Báo động 'khoảng trống hậu kháng sinh' và giải pháp phục hồi miễn dịch

Trẻ hết bệnh không có nghĩa đường ruột đã lành: Báo động 'khoảng trống hậu kháng sinh' và giải pháp phục hồi miễn dịch

Sống khỏe -

GĐXH - Ngày 26/9, tại Hội thảo khoa học "Tác động của kháng sinh tới sự phát triển của trẻ: Hệ quả dài hạn và hướng tiếp cận phục hồi trong nhi khoa", các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Nhi khoa đã công bố những bằng chứng khoa học mới nhất về mức độ ảnh hưởng của kháng sinh đối với hệ tiêu hóa non nớt của trẻ. Đồng thời đưa ra phác đồ phục hồi miễn dịch toàn diện.

Chăm sóc sức khỏe chủ động ngay từ bữa ăn: Lá chắn tự nhiên phòng bệnh

Chăm sóc sức khỏe chủ động ngay từ bữa ăn: Lá chắn tự nhiên phòng bệnh

Sống khỏe -

GĐXH - Từ lâu, dân gian đã có câu "Bệnh vào từ miệng" – hầu hết các vấn đề về sức khỏe đều bắt nguồn từ chính những gì chúng ta dung nạp vào cơ thể mỗi ngày. Trong bối cảnh các bệnh lý mạn tính không lây như tim mạch, béo phì, đái tháo đường và ung thư ngày càng gia tăng, việc chuyển dịch tư duy từ "chữa bệnh" sang "phòng bệnh", chủ động bảo vệ cơ thể ngay từ mâm cơm gia đình đang trở thành xu hướng tất yếu của xã hội hiện đại.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.