Ai có nguy cơ cao phản ứng thuốc gây mê?

| Sống khỏe

GiadinhNet - Nhiều bệnh nhân do dị ứng với thuốc gây mê sẽ gây sốc phản vệ, thậm chí nhân viên y tế chưa kịp can thiệp gì đã tử vong.

Tại Bệnh viện Bạch Mai, mỗi năm, khoa Hồi sức tích cực tiếp nhận khoảng 50 - 60 trường hợp sốc phản vệ được chuyển đến từ các bệnh viện khác. Con số này tăng nhiều so với 5-10 năm trước. Chi phí thuốc cấp cứu sốc phản vệ không đắt nhưng quan trọng là thời gian cấp cứu kịp thời.

PGS.TS Nguyễn Gia Bình, Trưởng khoa Hồi sức tích cực (Bệnh viện Bạch Mai), Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam cho biết, trước đây, một năm chỉ gặp một vài trường hợp sốc phản vệ nhưng hiện tại, tình trạng dị ứng, sốc phản vệ xảy ra nhiều hơn, diễn biến nguy hiểm hơn... do bệnh nhân sử dụng nhiều thiết bị y tế, sử dụng nhiều thuốc, chị em làm đẹp, nhu cầu cũng can thiệp nhiều hơn. Cũng có thể bệnh nhân phản vệ do dị ứng thức ăn, có người chỉ ăn một hạt lạc cũng bị sốc phản vệ và tử vong.


Theo các chuyên gia, về nguyên tắc, tất cả thuốc gây mê đều có nguy cơ sốc phản vệ.

Theo các chuyên gia, về nguyên tắc, tất cả thuốc gây mê đều có nguy cơ sốc phản vệ.

Đối với sử dụng thuốc gây mê, PGS Bình cho biết, nhiều khi bệnh nhân dị ứng với thuốc gây mê sẽ gây phản vệ, thậm chí nhân viên y tế chưa kịp can thiệp gì bệnh nhân đã tử vong.

Thuốc mê là thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương để làm mất hoàn toàn tạm thời ý thức, phản xạ và mọi cảm giác của toàn thân, trong khi vẫn duy trì được các chức năng sống (tuần hoàn, hô hấp, chuyển hoá, bài tiết..). Tức là khi được gây mê, người bệnh sẽ bất động, ngủ say như chết, hoàn toàn không hay biết khi cuộc phẫu thuật có khi rất nghiêm trọng đang diễn ra.

Mỗi loại thuốc gây mê có liều tối đa riêng. Nếu dùng liều quá thấp sẽ không đủ mê người bệnh, nếu dùng liều quá cao sẽ gây độc bệnh nhân. Đặc biệt sử dụng thuốc gây mê chỉ an toàn khi được tiến hành bởi bác sĩ được đào tạo một cách bài bản chuyên khoa gây mê hồi sức.

PGS.TS Nguyễn Hữu Đức, giảng viên chính bộ môn Dược, ĐH Y dược TP.HCM cho biết, quá trình gây mê diễn biến qua các giai đoạn: Tiền mê, khởi mê, duy trì mê, thoát mê (hồi tỉnh) và giai đoạn sau mổ. Trong bất kỳ giai đoạn nào đều cũng có thể xảy ra các tai biến và biến chứng.

Người gây mê cần phải thăm khám, đánh giá, tiên lượng tình trạng bệnh nhân trước mổ để có kế hoạch gây mê hồi sức hợp lý, đồng thời cần phải theo dõi sát bệnh nhân trong và sau gây mê nhằm kịp thời phát hiện và xử trí các biến chứng có thể xảy ra, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

PGS.TS Nguyễn Hữu Đức phân tích, hiện chưa có thuốc gây mê lý tưởng, nghĩa là có tác dụng tốt cho người bệnh và an toàn. Bên cạnh những lợi ích thuốc gây mê có thể gây tác dụng phụ. Hầu hết có thể gây suy hô hấp, giảm huyết áp, suy chức năng tuần hoàn não. Một số thuốc có thể gây suy gan, suy thận. Chính vì vậy, khi sử dụng thuốc gây mê thường phối hợp nhiều thuốc có tác dụng khác nhau để tạo ra trạng thái mê cân đối.

Ở giai đoạn tiền mê có thể có các biến chứng chủ yếu là do các tác dụng phụ của thuốc như suy hô hấp, buồn nôn và nôn, có thể gây tụt huyết áp nếu có giảm thể tích tuần hoàn. Các biến chứng trong thời kỳ khởi mê có thể gặp phải như do không đặt được nội khí quản gây dập môi, gãy răng, chảy máu vùng hầu họng. Hay co thắt phế quản, nôn, trào ngược… Đặc biệt, giai đoạn này có thể khiến người bệnh hạ huyết áp, truỵ tim mạch do tác dụng của các thuốc khởi mê gây giãn mạch.

Các thuốc gây mê có thể gây ức chế trực tiếp cơ tim làm giảm sự co bóp của cơ tim. Các trường hợp có giảm khối lượng tuần hoàn do mất máu, dịch từ trước mổ hoặc đang chảy máu một cách đột ngột và ồ ạt.

Ở giai đoạn duy trì mê có thể xảy ra các biến chứng như thiếu oxy máu, tràn khí màng phổi, co thắt phế quản… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sốc phản vệ khi gây mê.

Sau khi phân tích các tình huống có thể xảy ra trong quá trình gây mê, PGS.TS Nguyễn Hữu Đức khẳng định: “Về nguyên tắc, tất cả thuốc gây mê đều có nguy cơ sốc phản vệ. Chỉ có điều tỷ lệ nhiều hay ít. Muốn xác định nguyên nhân dẫn đến sốc phản vệ khi gây mê cần tìm hiểu thuốc sử dụng gây mê, quy trình tiến hành gây mê, trình độ người thực hiện… Một số bệnh nhân mắc các bệnh lý đặc biệt như loạn dưỡng cơ, bỏng, tổn thương tủy sống, đái tháo đường; bệnh tim; bệnh thận; tăng huyết áp… là những nguy cơ cao gây phản ứng thuốc gây mê”.

Chuyên gia gây mê cần phải tiên lượng và phản ứng nhạy bén với những thay đổi do tình trạng phẫu thuật và những diễn biến xảy ra do đáp ứng thuốc men ở từng người bệnh.

Bác sĩ chuyên khoa gây mê và các chuyên viên gây mê cần được huấn luyện thật tốt để có thể tiên lượng được một cách cặn kẽ nhất tình trạng của bệnh nhân.

Bên cạnh đó, những cơ sở y tế phải đủ điều kiện xử lý các tình huống xấu có thể xảy ra khi tiến hành gây mê. Trong trường hợp người bệnh gặp sự cố cần có cấp cứu kịp thời, xử lý đúng cách. Khi tiến hành gây mê, bác sĩ gây mê cần đánh giá sức khoẻ của bệnh nhân, thảo luận với bệnh nhân về phương thức gây mê giảm đau cho từng trường hợp phẫu thuật cụ thể. Chịu trách nhiệm gây mê kiểm soát đau cho bệnh nhân, theo dõi chăm sóc bệnh nhân trong phẫu thuật và ngay sau phẫu thuật. Bác sĩ gây mê phải có bằng cấp, chứng chỉ chuyên khoa gây mê hồi sức hợp lệ.

PGS.TS Nguyễn Hữu Đức có lời khuyên, người bệnh khi tiến hành phẫu thuật cần tìm đến những cơ sở y tế có uy tín và được tư vấn cẩn thận trước khi gây mê. Đừng xem nhẹ quá trình gây mê cũng như lạm dụng gây mê.

Khi gây mê có thể gặp các tác dụng phụ và biến chứng thường gặp như: Buồn nôn hoặc nôn; Nhức đầu; Đau hoặc bầm ở vị trí tiêm chích; Khô hoặc lở môi hoặc họng; Nhìn mờ, nhìn đôi hoặc chóng mặt; Tiểu khó; Phản ứng dị ứng nhẹ, sẩn ngứa; Tổn thương thần kinh tạm thời.. Nguy cơ hiếm gặp có thể gây tử vong: Dị ứng nặng hoặc sốc; Sốt cao độ; Đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim; Sặc hít (viêm phổi); Liệt; Huyết khối trong phổi; Tổn thương não.

Trước đó, sáng 25/12, hai bệnh nhân đã tử vong sau khi gây mê phẫu thuật nghi do sốc phản vệ thuốc gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Trí Đức. Báo cáo của Sở Y tế Hà Nội cho thấy, bệnh nhân nữ chẩn đoán đa u 2 thùy tuyến giáp, có chỉ định phẫu thuật cắt u 2 thùy tuyến giáp. Vô cảm bằng gây mê nội khí quản. Khoảng 8h15 phút, bệnh nhân được tiêm Atropine 0.25mg, Midazolam 5mg, Solumedrol 40mg, (tiền mê). Sau đó 15 phút có sử dụng tiếp 100mg Diprivan và 30mg Esmeron. Sau 30 giây, bệnh nhân có dấu hiệu shock phản vệ và được tiến hành cấp cứu tại phòng mổ, sau đó được chuyển đến Khoa A9 – Bệnh viện Bạch Mai điều trị.

Bệnh nhân nam được chẩn đoán: Viêm Xoang mãn – Viêm Amidal lệch vách ngăn – Sùi vòm. Có chỉ định phẫu thuật: Nội soi xoang – Cắt Amidal – Chỉnh hình vách ngăn – Nạo sùi vòm. Vô cảm bằng gây mê nội khí quản. Khoảng 8h40 phút, bệnh nhân được tiêm Atropine 0.25mg, Midazolam 5mg, Solumedrol 40mg (tiền mê), sau 15 phút sử dụng tiếp 120mg Diprivan và 30mg Esmeron. Sau 30 giây có dấu hiệu Shock phản vệ, được tiến hành cấp cứu tại phòng mổ, sau đó được chuyển đến Khoa A9 – Bệnh viện Bạch Mai điều trị.

Sáng 26/12, bà Trần Thị Nhị Hà – Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết hiện Sở này vẫn đang tiếp tục làm việc với cơ quan điều tra về vụ việc.

T.Nguyên

Ý kiến của bạn
Tags:
Mỡ lợn tự rán chưa chắc đã tốt nếu mắc 4 sai lầm này, chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo nhiều người Việt đang chủ quan

Mỡ lợn tự rán chưa chắc đã tốt nếu mắc 4 sai lầm này, chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo nhiều người Việt đang chủ quan

Bệnh thường gặp -

GĐXH - Mỡ lợn tự rán được nhiều gia đình ưa chuộng vì thơm ngon và được cho là an toàn hơn dầu ăn. Tuy nhiên, theo TS Lê Thị Hương Giang, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8, chỉ một vài sai lầm trong quá trình chế biến và bảo quản cũng có thể khiến mỡ lợn bị oxy hóa, giảm giá trị dinh dưỡng và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch.

'Được khám sức khỏe miễn phí là điều người dân chúng tôi rất mong chờ'

'Được khám sức khỏe miễn phí là điều người dân chúng tôi rất mong chờ'

Y tế -

GĐXH - Từ sáng sớm 16/7, hàng trăm người dân phường Thượng Cát đã có mặt tại Bệnh viện Lão khoa Hà Nội để tham gia chương trình khám sức khỏe định kỳ miễn phí theo kế hoạch của Sở Y tế Hà Nội. Không chỉ giúp phát hiện sớm nhiều bệnh lý tiềm ẩn, chương trình còn hướng tới mục tiêu quản lý sức khỏe toàn dân bằng hồ sơ sức khỏe điện tử, từng bước chuyển từ tư duy "chữa bệnh" sang "phòng bệnh".

Đừng nghĩ măng cụt càng ăn nhiều càng tốt: Chuyên gia chỉ ra 3 nhóm người cần lưu ý

Đừng nghĩ măng cụt càng ăn nhiều càng tốt: Chuyên gia chỉ ra 3 nhóm người cần lưu ý

Bệnh thường gặp -

GĐXH - Măng cụt là loại trái cây được nhiều người yêu thích nhờ vị ngọt thanh, giàu vitamin C, chất xơ và các hợp chất chống oxy hóa. Tuy nhiên, theo ThS.BS Nguyễn Vũ Bình, Giảng viên Đại học Y Hà Nội, dù mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, măng cụt cũng không phải thực phẩm có thể ăn tùy ý. Một số nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu ý về lượng sử dụng để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe.

Ngứa mãi không hết, bác sĩ cảnh báo đừng chỉ nghĩ do dị ứng: Có thể gan đang gặp vấn đề

Ngứa mãi không hết, bác sĩ cảnh báo đừng chỉ nghĩ do dị ứng: Có thể gan đang gặp vấn đề

Bệnh thường gặp -

GĐXH - Ngứa kéo dài không phải lúc nào cũng do thời tiết, dị ứng hay mỹ phẩm. Trong một số trường hợp, đây có thể là dấu hiệu sớm của bệnh gan, đặc biệt là xơ gan hoặc ứ mật. Nếu tình trạng ngứa xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân hoặc ngứa toàn thân không rõ nguyên nhân, kéo dài nhiều tuần và ít đáp ứng với thuốc chống dị ứng, người bệnh nên đi khám để được kiểm tra và phát hiện bệnh kịp thời.

Cật lợn có thực sự là món 'bổ thận'? Chuyên gia dinh dưỡng nói gì?

Cật lợn có thực sự là món 'bổ thận'? Chuyên gia dinh dưỡng nói gì?

Bệnh thường gặp -

GĐXH - Cật lợn là món ăn quen thuộc trong bữa cơm của nhiều gia đình Việt. Dù chỉ chiếm một phần nhỏ trên con lợn, đây lại là thực phẩm chứa nhiều dưỡng chất quan trọng. Theo ThS.BS Nguyễn Vũ Bình (Giảng viên Đại học Y Hà Nội) cho biết, nếu lựa chọn cật tươi, chế biến đúng cách và sử dụng với lượng hợp lý, cật lợn hoàn toàn có thể trở thành một phần của chế độ ăn cân đối.

Em bé nguy kịch sau tai nạn với thanh chắn giường

Em bé nguy kịch sau tai nạn với thanh chắn giường

Mẹ và bé -

GĐXH - Theo các bác sĩ, tai nạn liên quan đến thanh chắn giường ở trẻ nhỏ có thể gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt khi vùng cổ bị chèn ép. Trẻ có nguy cơ thiếu oxy não, suy hô hấp, co giật, thậm chí tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.