Chuyên gia phân tích những việc cần làm ngay để tận dụng lợi thế của thời kỳ “dân số vàng”
GiadinhNet – Theo các chuyên gia, để biến cơ hội “dân số vàng” thành động lực tăng trưởng kinh tế thì việc đầu tiên cần làm là cải thiện chất lượng nguồn lao động; có chính sách tạo việc làm, đa dạng hóa các ngành nghề sử dụng nhiều lao động…
Cải thiện chất lượng nguồn lao động là yếu tố tiên quyết
Tại Việt Nam, bắt đầu từ năm 2007, với tỷ số dân số phụ thuộc chung (nhóm dân số 0-14 tuổi và nhóm dân số trên 65 tuổi tính trên nhóm dân số 15-64) dưới 50%, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng".
Theo các nhà nhân khẩu học, cơ cấu "dân số vàng" thường kéo dài từ 30 - 35 năm, thậm chí là 40 - 50 năm. Điều đó đồng nghĩa với chừng ấy thời gian đất nước có được lực lượng lao động trẻ hùng hậu, đủ sức làm xoay chuyển nền kinh tế đất nước nếu chúng ta biết khai thác tối đa nguồn tài nguyên quý giá này. Cơ hội dân số vàng được phát huy khi tỷ lệ lao động có việc làm cao.

Nhà giáo Ưu tú, TS Phạm Xuân Khánh, Phụ trách Trường Cao đẳng nghề công nghệ cao Hà Nội cho biết: Để biến cơ hội "dân số vàng" thành động lực tăng trưởng kinh tế thì việc đầu tiên cần làm là cải thiện chất lượng nguồn lao động. Ảnh: Chí Cường
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, lực lượng dân số trong độ tuổi lao động vẫn chưa tạo nên sức bật cho nền kinh tế, vì có trên 70% là lao động giản đơn. Sự thiếu hụt trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch... là những thách thức không nhỏ đặt ra cho giai đoạn cơ cấu "dân số vàng".
Đề cập cụ thể về việc nắm bắt thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" ở nước ta, tại buổi Giao lưu trực tuyến: "Tận dụng cơ cấu dân số vàng, nắm bắt lợi thế" do Báo điện tử Gia đình và Xã hội (Tổng cục Dân số, Bộ Y tế) tổ chức mới đây, TS Phạm Xuân Khánh, Phụ trách Trường Cao đẳng nghề công nghệ cao Hà Nội cho biết: Để biến cơ hội "dân số vàng" thành động lực tăng trưởng kinh tế thì việc đầu tiên cần làm là cải thiện chất lượng nguồn lao động.
Theo đó, cần lập chiến lược toàn diện về phát triển nguồn nhân lực, trong đó đào tạo nghề đóng vai trò rất quan trọng, mở rộng nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường lao động.
Đa dạng hóa ngành nghề, các ngành sử dụng nhiều lao động ở khu vực nông thôn và thúc đẩy đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho nguồn lao động này. Tăng cường cơ hội việc làm, nhất là cho thanh niên vùng nông thôn, miền núi. Tạo bình đẳng giới trên thị trường lao động; chính sách di dân bảo đảm phân bố dân cư và lao động hợp lý cho các vùng, miền khu vực. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế nhằm kéo dài thời gian cơ cấu "dân số vàng", làm chậm quá trình "già hóa dân số".
Theo TS Phạm Xuân Khánh, để tạo được nhiều việc làm cho người lao động, cần có chính sách khuyến khích tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng xa xỉ, nâng cao tích lũy, thu hút, khuyến khích đầu tư tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, bảo đảm "người có khả năng làm việc" là có việc làm. Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật để người lao động có việc làm với năng suất cao.
"Để phát huy lợi thế của cơ cấu "dân số vàng" cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên cũng như sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn dân", TS Phạm Xuân Khánh nói.
Tập trung vào 3 nhóm ngành ưu tiên
Đào tạo, nâng cao chất lượng tay nghề cho người lao động. Ảnh: Website Trường Cao đẳng nghề công nghệ cao Hà Nội
Cũng theo TS Phạm Xuân Khánh, thế giới đã và đang trải qua những biến đổi to lớn, trong đó có chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp 4.0, các vấn đề an ninh phi truyền thống, dịch bệnh... Nhiều ngành sản xuất, nhiều phương thức sản xuất sẽ dần bị thay thế. Lao động sẽ bị đào thải, thậm chí thay thế bởi tự động hóa trong vài thập kỷ tới. Và những ngành nghề mới, phương thức mới, việc làm mới sẽ ra đời.
"Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, trong 10-15 năm tới khoảng 1/3 công việc hiện tại sẽ bị thay thế bởi máy móc, trí tuệ nhân tạo; khoảng 40% lao động toàn cầu sẽ phải bổ sung kỹ năng mới để đáp ứng yêu cầu công việc", người đứng đầu Trường Cao đẳng nghề công nghệ cao Hà Nội thông tin.
Theo TS Khánh, trên thực tế, đã có rất nhiều diễn đàn ở các cấp độ bàn về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Dù ở cấp độ nào, giác độ nào, các diễn đàn này đều khẳng định phải tăng cường đổi mới giáo dục để mọi người dân, ngay từ khi còn nhỏ, phải được thôi thúc, khơi dậy tính sáng tạo, được rèn luyện kỹ năng thích ứng với sự thay đổi.
Trong Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Chính phủ đã xác định 3 nhóm ngành công nghiệp lựa chọn ưu tiên phát triển, gồm: Công nghiệp chế biến chế tạo, Điện tử và viễn thông, Năng lượng mới và Năng lượng tái tạo.
Trong đó tập trung phát triển 10 ngành trọng điểm bao gồm: Ngành điện, ngành điện tử, ngành công nghệ thông tin, ngành cơ khí-luyện kim, ngành dầu khí, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, ngành chế biến nông lâm, thủy sản, thực phẩm, đồ uống, ngành hóa chất, ngành dệt may, da giày. Đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao như kỹ sư cơ khí, kỹ sư thủy sản, kỹ sư công nghệ thông tin…
"Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức hiện nay, ngành dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng. Dịch vụ cũng trở thành ngành kinh tế thu hút chủ yếu lực lượng lao động hiện nay. Chính phủ không những khuyến khích những ngành dịch vụ mũi nhọn phát triển làm động lực cho nền kinh tế mà còn quan tâm đến việc cung ứng tốt hơn các loại hình dịch vụ xã hội như môi trường, y tế, sức khoẻ và an sinh xã hội cho người dân. Đặc biệt là ngành dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao - ngành dịch vụ tri thức", TS Phạm Xuân Khánh nhấn mạnh.
Mai Thùy