Hà Nội
23°C / 22-25°C

Chuyện lý thú quanh Quốc hiệu Việt Nam

Thứ bảy, 08:39 02/09/2017 | Xã hội

GiadinhNet - Hai tiếng “Việt Nam” ngày nay đã được sử dụng phổ biến, trở nên thiêng liêng và gần gũi. Tuy nhiên, nguồn gốc, ý nghĩa và nhất là quá trình hình thành quốc hiệu đó vẫn luôn là những vấn đề lý thú, hấp dẫn, được nhiều người quan tâm.

Nam Việt và sự e ngại của nhà Thanh

Quan niệm phổ biến từ trước và nhiều kết quả nghiên cứu gần đây thường khẳng định quốc hiệu Việt Nam xuất hiện từ đầu thời Nguyễn, bởi vì chính sử của cả nước ta và Trung Quốc đều ghi nhận cụ thể việc này. Cụ thể là năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) phái hai đoàn sứ giả sang Trung Quốc. Một đoàn do Thượng thư Bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ, đem trao trả lại sách ấn mà triều Thanh phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do Thượng thư Bộ Binh là Lê Quang Định làm Chánh sứ, xin phong vương cho Nguyễn Ánh và xin đặt quốc hiệu là Nam Việt. Lời quốc thư của Nguyễn Ánh có đoạn: “… Mấy đời trước mở đất viên giao càng ngày càng rộng, gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn hai trăm năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn miền đất Việt, nên theo hiệu cũ để chính quốc danh…”.


Quốc huy Việt Nam. Ảnh: T.L

Quốc huy Việt Nam. Ảnh: T.L

Cũng trong năm 1802 này, nhà Thanh chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam. Nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (năm 1804), sứ giả nhà Thanh là Tề Bố Sâm mới mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long để làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh.

Như vậy, quốc hiệu Việt Nam được công nhận từ năm 1802, nhưng phải đến năm 1804 nó mới được chính thức thừa nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao. Giữa hai mốc thời gian này, có nhiều cuộc đi lại, tranh luận, hội đàm khá phức tạp giữa hai triều đình Nguyễn – Thanh. Bởi nhà Nguyễn muốn lấy quốc hiệu nước ta là Nam Việt như hồi các chúa Nguyễn khởi nghiệp, nên không bằng lòng ngay với sự đổi thành Việt Nam của nhà Thanh. Trong cuốn Nước Đại Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, tác giả người Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi căn cứ vào kết quả nghiên cứu của nhà Đông phương học Chusei Suzuki, cũng khẳng định điều đó: “Năm 1803, có những cuộc thương thảo rất quan trọng về quốc hiệu dưới triều Nguyễn: Nam Việt hay Việt Nam”.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập.
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập.

Sở dĩ nhà Thanh muốn sửa Nam Việt thành Việt Nam là vì hai lý do. Thứ nhất, trong lịch sử Trung Quốc từng có Triệu Đà nổi dậy cát cứ, lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Hoàng đế; các triều đại trung ương ở Trung Quốc đều không thừa nhận nước Nam Việt, nhà Thanh cũng vậy và không muốn bị gợi lại quá khứ kém cỏi ấy. Thứ hai (lý do này mới là quan trọng!), Nam Việt - theo cách hiểu truyền thống - có thể gồm cả miền đất nước ta và các xứ Việt Đông, Việt Tây (tức Quảng Đông, Quảng Tây) của Trung Quốc, nên nếu đặt làm quốc hiệu nước ta, sau này sẽ gây rắc rối về mặt lãnh thổ. Quốc thư phúc đáp của vua Thanh gửi vua Nguyễn đã tế nhị trình bày lý do đó.

“… Lúc trước có đất Việt Thường đã xưng là nước Nam Việt, nay có cả đất An Nam, xét ra cho kỹ, thì nên gộp cả đất đai trước sau mà đặt danh hiệu tốt. Vậy, định lấy chữ Việt để trên, tỏ việc giữ đất cũ mà nối nghiệp trước; lấy chữ Nam đặt dưới, tỏ việc mở cõi Nam giao mà chịu quyền mệnh mới. Như thế thì danh xưng chính đại, nghĩa chữ tốt lành, so với hai đất Việt nước Tàu khác nhau xa lắm…”.

Danh xưng Việt Nam có từ thế kỷ 14

Trống đồng Đông Sơn., biểu tượng văn hóa VN. Ảnh: T.L
Trống đồng Đông Sơn., biểu tượng văn hóa VN. Ảnh: T.L

Tuy nhiên, thực ra, không phải đến tận đầu thời Nguyễn, cái tên Việt Nam mới xuất hiện và có xuất xứ như vậy. Tên gọi Việt Nam được biết đến ít nhất từ thế kỷ 14, thường thấy trong nhiều thư tịch đương thời: Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Trình tiên sinh quốc ngữ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú,… Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cũng sưu tầm được các văn bia (với niên đại đều trước thế kỷ 18) có khắc tên gọi Việt Nam, tại những địa điểm khác nhau ở miền Bắc: Bia chùa Bảo Lâm (có từ năm 1558, tại Chí Linh - Hải Dương), bia chùa Cam Lộ (1590, Phú Xuyên - Hà Nội), bia chùa Phúc Thánh (1664, Quế Võ - Bắc Ninh), bia Thủy Môn Đình (1670, Đồng Đăng - Cao Lộc - Lạng Sơn); trong đó bia chùa Bảo Lâm và Thủy Môn Đình đã bị thất lạc, hiện chỉ còn bản dập tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Tên gọi Việt Nam có lẽ mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú địa lý của dân tộc ta (Việt Nam - nước của người Việt ở phía Nam), thể hiện niềm tự tôn, tinh thần độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của người Trung Quốc. Tuy nhiên, nó chưa thể trở thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng pháp luật.

Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên chính thức trở thành quốc hiệu của nước ta là vào năm 1792 chứ không phải vào đầu thời Nguyễn như nhiều người nhầm tưởng. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng (chiếu) của Nhà nước Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung thứ 5 và đã được thông báo cho nhà Thanh (Trung Quốc). Trong Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích có chép nguyên bản bài Tuyên cáo về việc đặt quốc hiệu mới của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) vào mùa Xuân năm Nhâm Tý 1792, nội dung như sau:

“Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều biết:

Trẫm nghĩ, xưa nay các bậc đế vương dựng nước, ắt có đặt quốc hiệu để tỏ sự đổi mới, hoặc nhân tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩa tốt đẹp, xét trong sử sách chứng cớ đã rõ ràng. Nước ta: Sao chùa Dực, Chẩn, cõi Việt hùng cường. Từ lâu đã có tên Văn Lang, Vạn Xuân còn thô kệch. Đến thời Đinh Tiên Hoàng gọi là Đại Cồ Việt nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ. Từ thời Lý về sau, quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho ngày trước. Tuy thế, vận hội dù có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ theo tên cũ, thực là trái với nghĩa chân chính của việc dựng nước vậy. Trẫm nối nghiệp xưa, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài… Ban đổi tên An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ.

Từ nay trở đi, cõi Viêm bang bền vững, tên hiệu tốt đẹp gọi truyền, ở trong bờ cõi đều hưởng phúc thanh ninh.

Vui thay, cõi Xuân Thu nhất thống đã truyền khắp bốn phương, gồm ân huệ lâu dài đều hưởng, còn nhiều muôn phúc.

Vậy, nay bá cáo rộng khắp để mọi người đều biết.

Nay chiếu”.

Tuy nhiên, vương triều Tây Sơn tồn tại khá ngắn ngủi, lại gặp nhiều phức tạp nội bộ, nên quốc hiệu mới Việt Nam chưa được dùng phổ biến. Tính đến nay, chúng ta cũng chưa tìm thấy sử liệu đáng kể nào nói về phản ứng của các nước ngoài (nhất là nhà Thanh - Trung Quốc) với việc đổi quốc hiệu này. Nhưng điều này cũng cho thấy rằng, quốc hiệu Việt Nam là của một ông vua nước Việt ban ra cho thiên hạ, trong đó có cả triều đại phong kiến nhà Thanh.

Nhiều thú vị xung quanh quốc hiệu

Sắc màu đất nước trong tà áo dài truyền thống VN. Ảnh:T.L
Sắc màu đất nước trong tà áo dài truyền thống VN. Ảnh:T.L

Trong lịch sử nước ta, có một hiện tượng rất thú vị là quốc hiệu và tên gọi đất nước (quốc danh) thường không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý đổi quốc hiệu là Đại Việt, quốc hiệu đó liên tục tồn tại đến hết đời Trần (1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh ngày 10/1/1226 lại mở đầu bằng câu: “Nước Nam Việt ta từ lâu đã có các đế vương trị vì”. Nhà Hồ (1400 -1407) đổi quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui lớn), nhưng đa số dân chúng vẫn gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc gọi Giao Chỉ. Thế kỷ thứ 15, trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi có viết: “Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt”, nhưng trong Bình Ngô đại cáo, ông lại viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đời Gia Long (trị vì năm 1802-1820), quốc hiệu là Việt Nam, nhưng một bộ phận dân chúng vẫn quen gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc và phương Tây thường gọi An Nam…

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam (cuối năm 1838), cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam Công hiến hội (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912); Phan Châu Trinh viết Pháp - Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam (1914), Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược (1919); Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (1925) và Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (1941)…

Như vậy là dù thời đại nào, hoàn cảnh ra sao, quốc hiệu Việt Nam vẫn được lưu truyền một cách mạnh mẽ, chính thống bên cạnh những danh xưng khác hoặc thứ danh xưng mà người khác gán cho chúng ta. Điều đó thể hiện sự trường tồn của một đất nước, một dân tộc với tinh thần mạnh mẽ, quật cường.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo Đại. Bảo Đại đổi lại quốc hiệu từ Đại Nam thành Việt Nam. Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa danh hiệu này. Từ đấy, quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện nhất của nó.

Nhà nghiên cứu, TS Nguyễn Anh Hùng

Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Những hành vi tưởng là lỗi khi tham gia giao thông nhưng không bị cảnh sát phạt, lái xe có thể chưa biết

Những hành vi tưởng là lỗi khi tham gia giao thông nhưng không bị cảnh sát phạt, lái xe có thể chưa biết

Đời sống - 45 phút trước

GĐXH - Nhiều hành vi khi tham gia giao thông tưởng là lỗi nhưng không bị cảnh sát giao thông xử phạt. Dưới đây là các hành vi cụ thể có thể nhiều người chưa biết.

Cụ ông ở TP.HCM ‘hồi sinh’ rác nhựa thành linh vật ngựa Bính Ngọ 2026

Cụ ông ở TP.HCM ‘hồi sinh’ rác nhựa thành linh vật ngựa Bính Ngọ 2026

Xã hội - 2 giờ trước

Từ ống nhựa bỏ đi, ông Trần Minh Lý (67 tuổi, TP.HCM) miệt mài tạo nên bộ linh vật ngựa Bính Ngọ 2026, gửi gắm ký ức tuổi thơ và thông điệp sống xanh.

Những lưu ý khi đi xe khách dịp Tết

Những lưu ý khi đi xe khách dịp Tết

Xã hội - 3 giờ trước

Dịp Tết là cao điểm đi lại: xe đông, dễ quá tải, dễ phát sinh trễ giờ và rủi ro an toàn. Bạn nên chuẩn bị kỹ các điểm sau:

Từ 15/2, người lao động mắc một trong những bệnh này sẽ được bảo hiểm xã hội chi trả

Từ 15/2, người lao động mắc một trong những bệnh này sẽ được bảo hiểm xã hội chi trả

Đời sống - 3 giờ trước

GĐXH - Từ 15/2/2026, 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội theo Thông tư 60/2025/TT-BYT.

Hà Nội: Danh sách các trường hợp vi phạm bị Camera AI ghi hình từ 12/2 - 13/2

Hà Nội: Danh sách các trường hợp vi phạm bị Camera AI ghi hình từ 12/2 - 13/2

Pháp luật - 3 giờ trước

GĐXH - Dù lưu lượng phương tiện đổ về các cửa ngõ tăng vọt để về quê đón năm mới, hệ thống giám sát thông minh (Camera AI) vẫn hoạt động xuyên suốt, ghi nhận hàng loạt vi phạm từ nội đô cho đến các tuyến cao tốc cửa ngõ.

Những ngày sinh Âm lịch gắn liền với vận giàu sang của phụ nữ

Những ngày sinh Âm lịch gắn liền với vận giàu sang của phụ nữ

Đời sống - 5 giờ trước

GĐXH - Theo quan niệm tử vi Á Đông, những phụ nữ sinh vào các ngày Âm lịch dưới đây được cho là mang phúc khí trời ban, càng sống càng thuận lợi.

Thông báo quan trọng liên  quan đến sổ đỏ mà tất cả người dân cần biết

Thông báo quan trọng liên quan đến sổ đỏ mà tất cả người dân cần biết

Xã hội - 5 giờ trước

Công an Hà Nội vừa phát đi cảnh báo mới.

52 câu chúc đầy lãng mạn, ý nghĩa dành cho người yêu nhân dịp Valentine 14/2

52 câu chúc đầy lãng mạn, ý nghĩa dành cho người yêu nhân dịp Valentine 14/2

Đời sống - 6 giờ trước

GĐXH - Valentine là ngày lễ tình nhân được diễn ra vào ngày 14/2 hàng năm. Lời chúc ngọt ngào và chân thành là những lời tốt nhất để bày tỏ tình cảm của mình. Một lời chúc Valentine xuất phát từ trái tim bạn chắc chắn sẽ làm cho nửa kia cảm động.

Dự báo thời tiết Hà Nội ngày 14/2: Bắc Bộ có mưa vài nơi, đêm và sáng trời rét

Dự báo thời tiết Hà Nội ngày 14/2: Bắc Bộ có mưa vài nơi, đêm và sáng trời rét

Xã hội - 6 giờ trước

GĐXH - Hôm nay, 14/2, Bắc Bộ trong đó có Thủ đô Hà Nội trời nhiều mây, có mưa nhỏ, mưa phùn và sương mù, sáng và đêm trời rét, nhiệt độ thấp nhất có nơi dưới 15 độ C, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho biết.

Cảnh tượng khó tin tại nhiều cửa hàng thời trang ở Hà Nội lúc 23h đêm 26 Tết

Cảnh tượng khó tin tại nhiều cửa hàng thời trang ở Hà Nội lúc 23h đêm 26 Tết

Xã hội - 7 giờ trước

Trong ngày làm việc cuối cùng trước khi kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán 2026 bắt đầu, nhiều người dân đã tranh thủ đổ xuống phố "săn sale" quần áo khiến các tuyến đường trở nên ùn tắc.

Top