Hà Nội
23°C / 22-25°C

Đánh giá thực trạng vô sinh ở Thừa Thiên Huế

Thứ hai, 15:23 05/12/2011 | Dân số và phát triển

Trên thế giới có khoảng 8-10% cặp vợ chồng phải đối mặt với tình trạng vô sinh. Tại Việt Nam, theo điều tra nhân khẩu học giữa kỳ 1994 cho thấy khoảng 7-10% số cặp vợ chồng bị vô sinh.

I. Đặt vấn đề

Trên thế giới có khoảng 8-10% cặp vợ chồng phải đối mặt với tình trạng vô sinh. Tại Việt Nam, theo điều tra nhân khẩu học giữa kỳ 1994 cho thấy khoảng 7-10% số cặp vợ chồng bị vô sinh.

Ở Thừa Thiên-Huế vấn đề vô sinh đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức và chưa có một số liệu chính thức nào về vô sinh để làm cơ sở cho công tác quản lý, chỉ đạo và giải pháp nâng cao sức khỏe cho phụ nữ. Đầu năm 2003 dân số toàn tỉnh là 1.096.890 người, trong đó có khoảng 160.178 phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng. Nếu tính theo tỷ lệ vô sinh khoảng 7% thì số cặp vợ chồng vô sinh ở Thừa Thiên Huế là một con số rất lớn.

Bảng 1. Phân bổ theo địa bàn cư trú
Vì những lý do trên Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh Thừa Thiên-Huế thực hiện đề tài nghiên cứu: "Đánh giá thực trạng vô sinh tại tỉnh Thừa Thiên-Huế" nhằm:

- Xác định tỷ lệ vô sinh của tỉnh;

- Tìm hiểu một số nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh nam và nữ;

- Đưa ra các giải pháp can thiệp, góp phần dự phòng và điều trị vô sinh có hiệu quả.

II. Kết quả và bàn luận

1. Đặc trưng của đối tượng

Địa bàn nghiên cứu:

Trong mẫu được chọn đại diện thành phố, đồng bằng, vùng biển, vùng núi, chọn 6 huyện, thành phố; mỗi huyện chọn 1-2 xã, mỗi xã chọn khoảng 50-100 cặp vợ chồng theo bốc thăm ngẫu nhiên. Số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ vô sinh ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 6% (tỷ lệ này thấp hơn so với toàn quốc), các huyện có tỷ lệ vô sinh dao động từ 5,5 - 6,5 %, huyện có tỷ lệ vô sinh thấp là Phú Lộc (3,9%); Phú Vang (4,4%), huyện có tỷ lệ vô sinh cao là Hương Trà (8,0%).

Tỷ lệ vô sinh ở thành thị (6,5%) cao hơn nông thôn (5,8%) và miền núi (5,8%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước và với điều kiện sinh hoạt, lối sống của người thành thị và nông thôn.

Trình độ văn hoá

Trình độ văn hoá nam giới cao hơn nữ giới. Đa số vô sinh tập trung ở nhóm nữ giới có trình độ thấp: tốt nghiệp tiểu học (37,5%), biết đọc biết viết 31,3%.

Nghề nghiệp

Trong 48 cặp vợ chồng vô sinh, tỷ lệ vô sinh ở những người vợ làm nghề buôn bán cao nhất (31,3%); rồi đến nông nghiệp (27,1%).

Tỷ lệ vô sinh của chồng: nhóm làm nghề nông chiếm  tỷ lệ cao (27,1%).
Bảng 2: Tỷ lệ vô sinh của vợ/chồng theo nghề nghiệp
 
Bảng 3: Tỷ lệ vô sinh của vợ/chồng theo nhóm tuổi
Tình trạng vô sinh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng độ tuổi càng lớn tỷ lệ vô sinh càng cao hơn: nhóm 25-29, 30-34 với tỷ lệ từ 6,6-6,7%, nhóm trên 45 chiếm 11% (đối với nữ) tương ứng ở nam từ 4,9-5,7% và 9,4%.

Vô sinh có ở tất cả các nhóm tuổi ở nữ. Sớm nhất là nhóm 15 - 19 tuổi (chiếm 2,1%) và trên 25 tuổi vô sinh chiếm tỷ lệ cao. Cao nhất là nhóm 30  34 (chiếm tỷ lệ 27,1%). Nam giới thuộc nhóm vô sinh đều trên 25 tuổi. Tập trung chủ yếu nhóm trên 30 tuổi.

2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng vô sinh

Phân bố theo tuổi lập gia đình

Kết quả điều tra cho thấy quan hệ giữa tuổi kết hôn của vợ với tình trạng vô sinh như sau:

- Nhóm tuổi kết hôn 24- 29: Số người vợ vô sinh chiếm tỷ lệ 66,7%

-  Nhóm tuổi kết hôn sớm (<19 tuổi ) chiếm tỷ lệ 16,7%

-  Nhóm tuổi 35 tuổi trở lên chiếm 4,2 %

Tiếp xúc các yếu tố độc hại

Kết quả cho thấy đối với phụ nữ có tiếp xúc hoá chất có nguy cơ vô sinh cao hơn 1,612 lần so với không tiếp xúc; tương tự tiếp xúc với thuốc trừ sâu là 1,151 lần và hút thuốc lá có nguy cơ bị vô sinh là 1,167. Tương tự nam giới có hút thuốc có nguy cơ vô sinh là 1,113 lần so với không hút thuốc và uống rượu có nguy cơ là 1,094 lần.

Các nguyên nhân tiền sử nội ngoại khoa của vợ

Những phụ nữ mắc bệnh bẩm sinh hoặc các bệnh nội tiết, tim mạch, thận hoặc các bệnh khác  có nguy cơ vô sinh cao gấp 2,12 lần so với người bình thường và con số này có ý nghĩa thống kê (<0,05). Tương tự những phụ nữ có tiền sử mổ tiểu khung có nguy cơ 2,14; nhiễm trùng sau mổ 1,13 và mổ viêm ruột thừa là 2,72.

Các nguyên nhân tiền sử nội ngoại khoa  của chồng

Ở nam giới những người mắc bệnh bẩm sinh, viêm nhiễm đường tiết niệu sinh dục, bị quai bị, xuất tinh sớm đều có nguy cơ bị vô sinh cao hơn những người bình thường con số này có ý nghĩa thống kê vì P< 0,05 và mổ vùng tiểu khung, bị nhiễm trùng sau mỗ cũng có nguy cơ bị vô sinh.

Nguy cơ tiền sử nội ngoại khoa phối hợp

Những cặp vợ chồng càng có nhiều bệnh nội, ngoại khoa kết hợp thì khả năng vô sinh càng cao. Ví dụ người vợ mắc 03 bệnh nội ngoại khoa thì nguy cơ vô sinh cao gấp 9,61 lần. Tương tự chồng mắc 04 bệnh nội ngoại khoa kết hợp thì khả năng vô sinh cao gấp 8,35 người bình thường

Các nguyên nhân sản phụ khoa liên quan đến  vô sinh

Phụ nữ bị băng huyết lúc sinh có nguy cơ vô sinh cao gấp 2,849 lần so với không băng huyết. Tương tự nếu bị nhiễm trùng sau sinh sẽ có nguy cơ bị vô sinh cao gấp 8,738 lần; nạo sẩy  thai là 1,905; mắc bệnh phụ khoa là 13,663 (có ý nghĩa thống kê vì P < 0,05). Nếu sẩy thai có nguy cơ vô sinh cao gấp 1,905 lần so với bình thường.

Nguy cơ phối hợp các tiền sử bệnh sản phụ khoa

Nếu như phụ nữ bị nhiều yếu tố bệnh phụ khoa phối hợp thì nguy cơ vô sinh càng cao. Cụ thể phối hợp thêm 1 yếu tố khả năng vô sinh tăng 1,61 lần, 2 yếu tố tăng 2,55 lần, 3 yếu tố tăng 3,17 lần, 4 yếu tố tăng 13 lần.

Các nguy cơ phối hợp các loại bệnh

Nếu như vợ mắc các thói quen hoặc tiếp xúc với các yếu tố độc hại, có tiền sử bệnh nội, ngoại khoa hoặc các bệnh sản phụ khoa càng nhiều yếu tố phối hợp thì khả năng vô sinh rất cao. Cụ thể phối hợp 1 yếu tố nguy cơ vô sinh tăng 1,43 lần; 2 yếu tố tăng 2,93; 3 yếu tố tăng 3,47; 4 yếu tố tăng 3,12 và 5 yếu tố tăng 12,49.

Tương tự nếu chồng phối hợp nhiều yếu tố như trên thì khả năng vô sinh cũng theo đó tăng rất cao. Cụ thể 1 yếu tố tăng 2,20; 2 yếu tố tăng 3,87; 3 yếu tố tăng 4,51; 4 yếu tố tăng 5,24; 5 yếu tố tăng 13,62 và 6 yếu tố phối hợp nguy cơ bị vô sinh tăng đến 59 lần so với người bình thường.

Nếu có sự phối hợp các yếu tố trên cả hai vợ chồng thì nguy cơ vô sinh càng tăng cao. Cụ thể 3 yếu tố nguy cơ lên tới 1,47; 4 yếu tố  tăng 1,45 lần; 5 yếu tố tăng 2,15; 6 yếu tố tăng 1,74; 7 yếu tố tăng 7,0; 8 và 9  yếu tố tăng 4,6 và phối hợp 10 yếu tố tăng 23 lần.

Nguy cơ vô sinh

Trong 48 cặp vợ chồng, nguy cơ vợ là 81,3% (có nguy cơ cao gấp 2,85 lần), chồng là 97,9% (có nguy cơ cao 4,001 lần) và nguy cơ cả hai là 97,9% (cao gấp 1,483 lần).

Vô sinh nguyên phát và thứ phát:

Trong 48 cặp vợ chồng vô sinh có 46 cặp (95,8%) vô sinh nguyên phát và 2 cặp (4,2%) vô sinh thứ phát (từng sinh con và sống).

3. Nhận thức và hiểu biết của các cặp vợ chồng về vô sinh

Hiểu biết của các cặp vợ chồng về vô sinh

Một điều lưu ý là có đến 10 cặp vợ chồng  (20,8%) không biết mình bị vô sinh. Đây là khó khăn lớn cho các cặp vợ chồng vì càng lâu không được điều trị thì khả năng điều trị thành công càng thấp (do lớn tuổi).

Vô sinh do ai?

Bảng 4: Vô sinh do ai
Tỷ lệ vô sinh theo giới: Nam giới có tỷ lệ vô sinh cao hơn nữ, nam chiếm 37,5%, nữ chỉ có 22,9%, cả 2 vợ chồng là 10,4%, không rõ  29,2%. Tỷ lệ này có khác với nghiên cứu chung về vô sinh, theo một số nghiên cứu trước cho thấy tỷ lệ vô sinh nam, nữ gần ngang nhau (40%), do cả hai là 20%, nhất là tỷ lệ vô sinh ở nữ của nghiên cứu này thấp chỉ có 22,9% phải chăng do truyền thống văn hoá và giáo dục gia đình có tác động đến điều kiện sống và sinh hoạt của phụ nữ Huế.

Biết nguyên nhân vô sinh

Trong 48 cặp vợ chồng trả lời có 34 cặp (70,83%) trả lời biết nguyên nhân do chồng, vợ hoặc cả hai và 14 cặp không biết nguyên nhân do ai, chứng tỏ hiểu biết và sự quan tâm của họ về vấn đề này chưa được chú ý, hoặc do điều kiện và khả năng có hạn họ chưa đi kiểm tra để biết nguyên nhân và hướng chữa trị.

Điều trị vô sinh

Trong số những cặp vợ chồng bị vô sinh chỉ có 23 cặp vợ chồng (48%) đã đi chữa trị còn tới 25 cặp vợ chồng (trên 52%) chưa đi chữa trị; vấn đề đặt ra là cần tuyên truyền giúp cho họ hiểu và phải đi khám chữa trị sớm mới có cơ hội được vì nếu càng để lâu các bệnh lý liên quan không được chữa trị thì càng làm nặng bệnh hoặc đối với phụ nữ càng để lâu tuổi càng lớn thì khả năng chữa trị được càng thấp hơn.

Mặc dầu có 70,83% cặp vợ chồng biết nguyên nhân vô sinh nhưng số tham gia  điều trị chiếm  tỷ lệ thấp 67,65% (23/34).

 Trong 48 cặp vợ chồng đã xác định 23 vô sinh nam và 16 vô sinh nữ (Qua điều tra và kiểm tra các chẩn đoán của cơ sở y tế)

Như vậy:

- Tỷ lệ vô sinh nam là: 23/800 = 2,88%

- Tỷ lệ vô sinh do nữ: 16/800 = 2,0%

Vô sinh nữ nguyên nhân chủ yếu do rối loạn nội tiết tố sinh dục và viêm dính tử cung, vòi trứng (8,3%). Nam giới chủ yếu do tinh trùng ít và yếu (41,7%).

Thời gian mong muốn có con

Số người mong muốn có con nhưng chưa có  với thời gian khá dài (trên 4 năm) chiếm tới 75%. Vấn đề đặt ra cho công tác giáo dục truyền thông là nâng cao kiến thức nhận biết về vấn đề vô sinh, đồng thời cần quan tâm đến thiết lập cơ sở tư vấn và điều trị vô sinh giúp các cặp vợ chồng được chữa trị sớm.

Lý do không điều trị vô sinh

Trong số những người bị vô sinh, có tới 14 cặp vợ chồng (29,2%) do khó khăn về kinh tế mà không đi chữa trị, có 10 cặp (20,8%) không biết nơi chữa trị. Đây là vấn đề cần lưu ý trong công tác truyền thông đối với vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho nhóm người bị vô sinh.

Thời gian điều trị vô sinh

Có đến 75% cặp vợ chồng vô sinh mong muốn có con trên 4 năm nhưng thời gian điều trị vô sinh dưới 1 năm chiếm tỷ lệ 63,6%. Điều này phản ánh một phần sự thiếu hiểu biết, ít quan tâm hoặc điều kiện kinh tế của các cặp vợ chồng bị vô sinh không cho phép họ tham gia điều trị sớm.

III. Kết luận

Qua nghiên cứu 800 cặp vợ chồng ở các địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế có thể rút ra các kết luận sau:

1. Tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 6%, trong đó: thành thị là  6,5%, nông thôn là  5,8%; Vô sinh do chồng là  37,5%, do vợ  22,9%; Vô sinh do cả 2 vợ chồng 10,4%,  không rõ nguyên nhân 29,2%

2. Các nguyên nhân và yếu tố chính ảnh hưởng đến vô sinh nam và nữ: Qua quá trình điều tra cho thấy nhiều nguyên nhân và các yếu tố đã ảnh hưởng đến vô sinh:

- Những người có thói quen như hút thuốc lá, uống rượu hoặc tiếp xúc với các hoá chất và môi trường độc hại như thuốc trừ sâu, chì, tia xạ, tiếng ồn.

- Những người có tiền sử hoặc hiện tại bị các bệnh nội, ngoại khoa thì nguy cơ vô sinh cao hơn người có sức khoẻ bình thường. Cả hai vợ chồng cùng có tiền sử hoặc hiện tại bị bệnh nội ngoại khoa thì khả năng vô sinh sẽ cao đột biến.

- Những phụ nữ có tiền sử hoặc hiện tại mắc các bệnh sản phụ khoa như băng huyết và nhiễm trùng sau sinh, sẩy thai, hoặc nạo phá thai thì nguy cơ bị vô sinh tăng lên rõ rệt. Nhiều yếu tố bệnh sản phụ khoa phối hợp thì khả năng người phụ nữ bị vô sinh càng cao. Nếu cả hai vợ chồng có nhiều yếu tố phối hợp thì khả năng vô sinh càng cao.

- Nhận thức và hiểu biết về vấn đề vô sinh của các cặp vợ chồng chưa cao, còn 20,8% không biết đến vấn đề vô sinh  và 52,08% không biết để đi điều trị vô sinh.

- Nhận thức thấp và điều kiện kinh tế khó khăn là một cản trở đến việc khám và điều trị vô sinh.

IV. Kiến nghị

1. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền thực hiện chiến lược chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chú trọng nội dung vô sinh. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa vô sinh không những cho phụ nữ mà còn cả nam giới. Thông qua giáo dục SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên nên chú trọng tuyên truyền về các nguyên nhân có thể gây nên tình trạng vô sinh để các em chủ động phòng ngừa, nhất là các nguyên nhân gây vô sinh trong đó vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và vấn đề nạo phá thai. Cần tuyên truyền rộng rãi vấn đề vô sinh, chú ý tuyên truyền cho nam giới hiểu vô sinh nam chiếm tỷ lệ khá cao và vô sinh không chỉ do nữ giới.

2. Cần chú trọng đến các điểm tư vấn về vô sinh có chất lượng cao tại các cơ sơ y tế, trung tâm tư vấn. Hướng dẫn đối tượng đến cơ sở y tế chuyên sâu để khám và điều trị càng sớm càng tốt.

3. Tạo môi trường sống, lao động đảm bảo, tránh ô nhiễm hoặc làm việc trong môi trường độc hại nhưng không được bảo vệ.

4. Xây dựng và mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/vô sinh, xây dựng trung tâm chuyên sâu về chữa trị vô sinh và tăng chất lượng điều trị của chuyên khoa hiếm muộn tại khoa sản bệnh viện Trung ương Huế, các bệnh viện huyện.

5. Hướng đến cơ chế chính sách hỗ trợ người bị vô sinh được tiếp cận các dịch vụ truyền thông, tư vấn và điều trị vô sinh một cách thuận lợi.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 9/2006), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Chồng từ chối khám vô sinh, vợ chịu áp lực oan suốt 3 năm vì định kiến vô sinh

Chồng từ chối khám vô sinh, vợ chịu áp lực oan suốt 3 năm vì định kiến vô sinh

Dân số và phát triển - 20 giờ trước

GĐXH - Áp lực vô sinh đè nặng lên người vợ suốt 3 năm khi chồng từ chối khám, trong khi nguyên nhân vô sinh lại đến từ phía nam giới.

Thiếu nữ 15 tuổi men gan tăng gấp 10 lần, tổn thương gan nặng vì sốt xuất huyết

Thiếu nữ 15 tuổi men gan tăng gấp 10 lần, tổn thương gan nặng vì sốt xuất huyết

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Sốt xuất huyết ngày thứ 4, thiếu nữ 15 tuổi buồn nôn, men gan tăng vọt gấp 10 lần bình thường, đối mặt nguy cơ tổn thương gan nặng nếu không được theo dõi sát.

3 nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh ở phụ nữ, chị em cần biết sớm

3 nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh ở phụ nữ, chị em cần biết sớm

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hội chứng buồng trứng đa nang, suy buồng trứng và lạc nội mạc tử cung là những nguyên nhân phổ biến gây vô sinh ở phụ nữ.

4 lý do khiến phụ nữ tiền mãn kinh dễ bị kiệt sức

4 lý do khiến phụ nữ tiền mãn kinh dễ bị kiệt sức

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

Giai đoạn tiền mãn kinh thường được ví như một 'cơn bão ngầm' trong cuộc đời người phụ nữ. Không chỉ dừng lại ở những cơn bốc hỏa hay sự thay đổi về kinh nguyệt, tình trạng kiệt sức có thể bào mòn cả thể chất lẫn tinh thần.

Mang thai lần 3, sản phụ nặng 140kg đối mặt tiền sản giật nguy hiểm

Mang thai lần 3, sản phụ nặng 140kg đối mặt tiền sản giật nguy hiểm

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Mắc tiền sản giật nặng với huyết áp lên tới 197/120 mmHg, sản phụ nặng 140kg đối mặt nguy hiểm đã sinh bé trai nặng 4,6kg, chào đời an toàn.

3 sai lầm phổ biến khi cha mẹ tự nong bao quy đầu cho con

3 sai lầm phổ biến khi cha mẹ tự nong bao quy đầu cho con

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

Nhiều cha mẹ vẫn giữ thói quen tự ý nong lột bao quy đầu cho con theo truyền miệng. Tuy nhiên, những can thiệp thô bạo hoặc vệ sinh sai cách có thể gây sẹo xơ và viêm nhiễm. Hãy cùng bác sĩ nam khoa nhận diện 3 sai lầm chí mạng này.

Hải Phòng khám sức khỏe miễn phí cho người cao tuổi

Hải Phòng khám sức khỏe miễn phí cho người cao tuổi

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Nhằm phát hiện sớm bệnh mạn tính và nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số ngày càng gia tăng, Hải Phòng triển khai khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc bệnh lý miễn phí.

Viêm 'vùng kín' ở trẻ em: Đừng chủ quan nghĩ trẻ nhỏ là không mắc bệnh

Viêm 'vùng kín' ở trẻ em: Đừng chủ quan nghĩ trẻ nhỏ là không mắc bệnh

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

Nhiều phụ huynh vẫn tin rằng viêm nhiễm phụ khoa là chuyện của người lớn, nhưng thực tế, 'vùng kín' của trẻ em vốn rất non nớt và dễ bị tổn thương nếu không được chăm sóc đúng cách.

Người phụ nữ 27 tuổi biến dạng ngực sau khi sinh thừa nhận 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 27 tuổi biến dạng ngực sau khi sinh thừa nhận 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Phát hiện khối u ở vú sau khi sinh nhưng chủ quan không tái khám định kỳ. Chỉ trong thời gian ngắn, khối u phát triển nhanh khiến bầu ngực biến dạng rõ rệt.

Hải Phòng tăng cường kiểm tra công tác tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi

Hải Phòng tăng cường kiểm tra công tác tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Việc kiểm tra, nắm bắt tình hình tại cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện, đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho NCT theo Nghị quyết số 49/2025 của HĐND TP Hải Phòng về chính sách hỗ trợ công tác dân số giai đoạn 2026 – 2030.

Top