Đánh giá thực trạng vô sinh ở Thừa Thiên Huế
Trên thế giới có khoảng 8-10% cặp vợ chồng phải đối mặt với tình trạng vô sinh. Tại Việt Nam, theo điều tra nhân khẩu học giữa kỳ 1994 cho thấy khoảng 7-10% số cặp vợ chồng bị vô sinh.
I. Đặt vấn đề
Trên thế giới có khoảng 8-10% cặp vợ chồng phải đối mặt với tình trạng vô sinh. Tại Việt Nam, theo điều tra nhân khẩu học giữa kỳ 1994 cho thấy khoảng 7-10% số cặp vợ chồng bị vô sinh.
Ở Thừa Thiên-Huế vấn đề vô sinh đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức và chưa có một số liệu chính thức nào về vô sinh để làm cơ sở cho công tác quản lý, chỉ đạo và giải pháp nâng cao sức khỏe cho phụ nữ. Đầu năm 2003 dân số toàn tỉnh là 1.096.890 người, trong đó có khoảng 160.178 phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng. Nếu tính theo tỷ lệ vô sinh khoảng 7% thì số cặp vợ chồng vô sinh ở Thừa Thiên Huế là một con số rất lớn.
![]() |
- Xác định tỷ lệ vô sinh của tỉnh;
- Tìm hiểu một số nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh nam và nữ;
- Đưa ra các giải pháp can thiệp, góp phần dự phòng và điều trị vô sinh có hiệu quả.
II. Kết quả và bàn luận
1. Đặc trưng của đối tượng
Địa bàn nghiên cứu:
Trong mẫu được chọn đại diện thành phố, đồng bằng, vùng biển, vùng núi, chọn 6 huyện, thành phố; mỗi huyện chọn 1-2 xã, mỗi xã chọn khoảng 50-100 cặp vợ chồng theo bốc thăm ngẫu nhiên. Số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ vô sinh ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 6% (tỷ lệ này thấp hơn so với toàn quốc), các huyện có tỷ lệ vô sinh dao động từ 5,5 - 6,5 %, huyện có tỷ lệ vô sinh thấp là Phú Lộc (3,9%); Phú Vang (4,4%), huyện có tỷ lệ vô sinh cao là Hương Trà (8,0%).
Tỷ lệ vô sinh ở thành thị (6,5%) cao hơn nông thôn (5,8%) và miền núi (5,8%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước và với điều kiện sinh hoạt, lối sống của người thành thị và nông thôn.
Trình độ văn hoá
Trình độ văn hoá nam giới cao hơn nữ giới. Đa số vô sinh tập trung ở nhóm nữ giới có trình độ thấp: tốt nghiệp tiểu học (37,5%), biết đọc biết viết 31,3%.
Nghề nghiệp
Trong 48 cặp vợ chồng vô sinh, tỷ lệ vô sinh ở những người vợ làm nghề buôn bán cao nhất (31,3%); rồi đến nông nghiệp (27,1%).
Bảng 2: Tỷ lệ vô sinh của vợ/chồng theo nghề nghiệp
![]() |
![]() |
Vô sinh có ở tất cả các nhóm tuổi ở nữ. Sớm nhất là nhóm 15 - 19 tuổi (chiếm 2,1%) và trên 25 tuổi vô sinh chiếm tỷ lệ cao. Cao nhất là nhóm 30 34 (chiếm tỷ lệ 27,1%). Nam giới thuộc nhóm vô sinh đều trên 25 tuổi. Tập trung chủ yếu nhóm trên 30 tuổi.
2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng vô sinh
Phân bố theo tuổi lập gia đình
Kết quả điều tra cho thấy quan hệ giữa tuổi kết hôn của vợ với tình trạng vô sinh như sau:
- Nhóm tuổi kết hôn 24- 29: Số người vợ vô sinh chiếm tỷ lệ 66,7%
- Nhóm tuổi kết hôn sớm (<19 tuổi ) chiếm tỷ lệ 16,7%
- Nhóm tuổi 35 tuổi trở lên chiếm 4,2 %
Tiếp xúc các yếu tố độc hại
Kết quả cho thấy đối với phụ nữ có tiếp xúc hoá chất có nguy cơ vô sinh cao hơn 1,612 lần so với không tiếp xúc; tương tự tiếp xúc với thuốc trừ sâu là 1,151 lần và hút thuốc lá có nguy cơ bị vô sinh là 1,167. Tương tự nam giới có hút thuốc có nguy cơ vô sinh là 1,113 lần so với không hút thuốc và uống rượu có nguy cơ là 1,094 lần.
Các nguyên nhân tiền sử nội ngoại khoa của vợ
Những phụ nữ mắc bệnh bẩm sinh hoặc các bệnh nội tiết, tim mạch, thận hoặc các bệnh khác có nguy cơ vô sinh cao gấp 2,12 lần so với người bình thường và con số này có ý nghĩa thống kê (<0,05). Tương tự những phụ nữ có tiền sử mổ tiểu khung có nguy cơ 2,14; nhiễm trùng sau mổ 1,13 và mổ viêm ruột thừa là 2,72.
Các nguyên nhân tiền sử nội ngoại khoa của chồng
Ở nam giới những người mắc bệnh bẩm sinh, viêm nhiễm đường tiết niệu sinh dục, bị quai bị, xuất tinh sớm đều có nguy cơ bị vô sinh cao hơn những người bình thường con số này có ý nghĩa thống kê vì P< 0,05 và mổ vùng tiểu khung, bị nhiễm trùng sau mỗ cũng có nguy cơ bị vô sinh.
Nguy cơ tiền sử nội ngoại khoa phối hợp
Những cặp vợ chồng càng có nhiều bệnh nội, ngoại khoa kết hợp thì khả năng vô sinh càng cao. Ví dụ người vợ mắc 03 bệnh nội ngoại khoa thì nguy cơ vô sinh cao gấp 9,61 lần. Tương tự chồng mắc 04 bệnh nội ngoại khoa kết hợp thì khả năng vô sinh cao gấp 8,35 người bình thường
Các nguyên nhân sản phụ khoa liên quan đến vô sinh
Phụ nữ bị băng huyết lúc sinh có nguy cơ vô sinh cao gấp 2,849 lần so với không băng huyết. Tương tự nếu bị nhiễm trùng sau sinh sẽ có nguy cơ bị vô sinh cao gấp 8,738 lần; nạo sẩy thai là 1,905; mắc bệnh phụ khoa là 13,663 (có ý nghĩa thống kê vì P < 0,05). Nếu sẩy thai có nguy cơ vô sinh cao gấp 1,905 lần so với bình thường.
Nguy cơ phối hợp các tiền sử bệnh sản phụ khoa
Nếu như phụ nữ bị nhiều yếu tố bệnh phụ khoa phối hợp thì nguy cơ vô sinh càng cao. Cụ thể phối hợp thêm 1 yếu tố khả năng vô sinh tăng 1,61 lần, 2 yếu tố tăng 2,55 lần, 3 yếu tố tăng 3,17 lần, 4 yếu tố tăng 13 lần.
Các nguy cơ phối hợp các loại bệnh
Nếu như vợ mắc các thói quen hoặc tiếp xúc với các yếu tố độc hại, có tiền sử bệnh nội, ngoại khoa hoặc các bệnh sản phụ khoa càng nhiều yếu tố phối hợp thì khả năng vô sinh rất cao. Cụ thể phối hợp 1 yếu tố nguy cơ vô sinh tăng 1,43 lần; 2 yếu tố tăng 2,93; 3 yếu tố tăng 3,47; 4 yếu tố tăng 3,12 và 5 yếu tố tăng 12,49.
Tương tự nếu chồng phối hợp nhiều yếu tố như trên thì khả năng vô sinh cũng theo đó tăng rất cao. Cụ thể 1 yếu tố tăng 2,20; 2 yếu tố tăng 3,87; 3 yếu tố tăng 4,51; 4 yếu tố tăng 5,24; 5 yếu tố tăng 13,62 và 6 yếu tố phối hợp nguy cơ bị vô sinh tăng đến 59 lần so với người bình thường.
Nếu có sự phối hợp các yếu tố trên cả hai vợ chồng thì nguy cơ vô sinh càng tăng cao. Cụ thể 3 yếu tố nguy cơ lên tới 1,47; 4 yếu tố tăng 1,45 lần; 5 yếu tố tăng 2,15; 6 yếu tố tăng 1,74; 7 yếu tố tăng 7,0; 8 và 9 yếu tố tăng 4,6 và phối hợp 10 yếu tố tăng 23 lần.
Nguy cơ vô sinh
Trong 48 cặp vợ chồng, nguy cơ vợ là 81,3% (có nguy cơ cao gấp 2,85 lần), chồng là 97,9% (có nguy cơ cao 4,001 lần) và nguy cơ cả hai là 97,9% (cao gấp 1,483 lần).
Vô sinh nguyên phát và thứ phát:
Trong 48 cặp vợ chồng vô sinh có 46 cặp (95,8%) vô sinh nguyên phát và 2 cặp (4,2%) vô sinh thứ phát (từng sinh con và sống).
3. Nhận thức và hiểu biết của các cặp vợ chồng về vô sinh
Hiểu biết của các cặp vợ chồng về vô sinh
Một điều lưu ý là có đến 10 cặp vợ chồng (20,8%) không biết mình bị vô sinh. Đây là khó khăn lớn cho các cặp vợ chồng vì càng lâu không được điều trị thì khả năng điều trị thành công càng thấp (do lớn tuổi).
Vô sinh do ai?
![]() |
Biết nguyên nhân vô sinh
Trong 48 cặp vợ chồng trả lời có 34 cặp (70,83%) trả lời biết nguyên nhân do chồng, vợ hoặc cả hai và 14 cặp không biết nguyên nhân do ai, chứng tỏ hiểu biết và sự quan tâm của họ về vấn đề này chưa được chú ý, hoặc do điều kiện và khả năng có hạn họ chưa đi kiểm tra để biết nguyên nhân và hướng chữa trị.
Điều trị vô sinh
Trong số những cặp vợ chồng bị vô sinh chỉ có 23 cặp vợ chồng (48%) đã đi chữa trị còn tới 25 cặp vợ chồng (trên 52%) chưa đi chữa trị; vấn đề đặt ra là cần tuyên truyền giúp cho họ hiểu và phải đi khám chữa trị sớm mới có cơ hội được vì nếu càng để lâu các bệnh lý liên quan không được chữa trị thì càng làm nặng bệnh hoặc đối với phụ nữ càng để lâu tuổi càng lớn thì khả năng chữa trị được càng thấp hơn.
Mặc dầu có 70,83% cặp vợ chồng biết nguyên nhân vô sinh nhưng số tham gia điều trị chiếm tỷ lệ thấp 67,65% (23/34).
Trong 48 cặp vợ chồng đã xác định 23 vô sinh nam và 16 vô sinh nữ (Qua điều tra và kiểm tra các chẩn đoán của cơ sở y tế)
Như vậy:
- Tỷ lệ vô sinh nam là: 23/800 = 2,88%
- Tỷ lệ vô sinh do nữ: 16/800 = 2,0%
Vô sinh nữ nguyên nhân chủ yếu do rối loạn nội tiết tố sinh dục và viêm dính tử cung, vòi trứng (8,3%). Nam giới chủ yếu do tinh trùng ít và yếu (41,7%).
Thời gian mong muốn có con
Số người mong muốn có con nhưng chưa có với thời gian khá dài (trên 4 năm) chiếm tới 75%. Vấn đề đặt ra cho công tác giáo dục truyền thông là nâng cao kiến thức nhận biết về vấn đề vô sinh, đồng thời cần quan tâm đến thiết lập cơ sở tư vấn và điều trị vô sinh giúp các cặp vợ chồng được chữa trị sớm.
Lý do không điều trị vô sinh
Trong số những người bị vô sinh, có tới 14 cặp vợ chồng (29,2%) do khó khăn về kinh tế mà không đi chữa trị, có 10 cặp (20,8%) không biết nơi chữa trị. Đây là vấn đề cần lưu ý trong công tác truyền thông đối với vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho nhóm người bị vô sinh.
Thời gian điều trị vô sinh
Có đến 75% cặp vợ chồng vô sinh mong muốn có con trên 4 năm nhưng thời gian điều trị vô sinh dưới 1 năm chiếm tỷ lệ 63,6%. Điều này phản ánh một phần sự thiếu hiểu biết, ít quan tâm hoặc điều kiện kinh tế của các cặp vợ chồng bị vô sinh không cho phép họ tham gia điều trị sớm.
III. Kết luận
Qua nghiên cứu 800 cặp vợ chồng ở các địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế có thể rút ra các kết luận sau:
1. Tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 6%, trong đó: thành thị là 6,5%, nông thôn là 5,8%; Vô sinh do chồng là 37,5%, do vợ 22,9%; Vô sinh do cả 2 vợ chồng 10,4%, không rõ nguyên nhân 29,2%
2. Các nguyên nhân và yếu tố chính ảnh hưởng đến vô sinh nam và nữ: Qua quá trình điều tra cho thấy nhiều nguyên nhân và các yếu tố đã ảnh hưởng đến vô sinh:
- Những người có thói quen như hút thuốc lá, uống rượu hoặc tiếp xúc với các hoá chất và môi trường độc hại như thuốc trừ sâu, chì, tia xạ, tiếng ồn.
- Những người có tiền sử hoặc hiện tại bị các bệnh nội, ngoại khoa thì nguy cơ vô sinh cao hơn người có sức khoẻ bình thường. Cả hai vợ chồng cùng có tiền sử hoặc hiện tại bị bệnh nội ngoại khoa thì khả năng vô sinh sẽ cao đột biến.
- Những phụ nữ có tiền sử hoặc hiện tại mắc các bệnh sản phụ khoa như băng huyết và nhiễm trùng sau sinh, sẩy thai, hoặc nạo phá thai thì nguy cơ bị vô sinh tăng lên rõ rệt. Nhiều yếu tố bệnh sản phụ khoa phối hợp thì khả năng người phụ nữ bị vô sinh càng cao. Nếu cả hai vợ chồng có nhiều yếu tố phối hợp thì khả năng vô sinh càng cao.
- Nhận thức và hiểu biết về vấn đề vô sinh của các cặp vợ chồng chưa cao, còn 20,8% không biết đến vấn đề vô sinh và 52,08% không biết để đi điều trị vô sinh.
- Nhận thức thấp và điều kiện kinh tế khó khăn là một cản trở đến việc khám và điều trị vô sinh.
IV. Kiến nghị
1. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền thực hiện chiến lược chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chú trọng nội dung vô sinh. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa vô sinh không những cho phụ nữ mà còn cả nam giới. Thông qua giáo dục SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên nên chú trọng tuyên truyền về các nguyên nhân có thể gây nên tình trạng vô sinh để các em chủ động phòng ngừa, nhất là các nguyên nhân gây vô sinh trong đó vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và vấn đề nạo phá thai. Cần tuyên truyền rộng rãi vấn đề vô sinh, chú ý tuyên truyền cho nam giới hiểu vô sinh nam chiếm tỷ lệ khá cao và vô sinh không chỉ do nữ giới.
2. Cần chú trọng đến các điểm tư vấn về vô sinh có chất lượng cao tại các cơ sơ y tế, trung tâm tư vấn. Hướng dẫn đối tượng đến cơ sở y tế chuyên sâu để khám và điều trị càng sớm càng tốt.
3. Tạo môi trường sống, lao động đảm bảo, tránh ô nhiễm hoặc làm việc trong môi trường độc hại nhưng không được bảo vệ.
4. Xây dựng và mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/vô sinh, xây dựng trung tâm chuyên sâu về chữa trị vô sinh và tăng chất lượng điều trị của chuyên khoa hiếm muộn tại khoa sản bệnh viện Trung ương Huế, các bệnh viện huyện.
5 bài tập kéo giãn khi ngồi dành cho người cao tuổi
Dân số và phát triển - 2 giờ trướcCác bài tập kéo giãn khi ngồi là lựa chọn phù hợp cho người cao tuổi, giúp duy trì vận động, cải thiện độ linh hoạt và giảm nguy cơ cứng khớp…
Vì sao chị em nên chủ động theo dõi chu kỳ kinh nguyệt?
Dân số và phát triển - 10 giờ trướcHiểu rõ nhịp điệu sinh học của cơ thể thông qua việc theo dõi chu kỳ kinh nguyệt là bước đầu tiên để phụ nữ chủ động quản lý sức khỏe sinh sản.
5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất và những điều chị em cần biết
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcTrong thế giới hiện đại, việc chủ động kế hoạch hóa gia đình là chìa khóa vàng giúp phụ nữ làm chủ cuộc sống. Dưới đây là 5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất, hiệu quả và an toàn.
Thai phụ suýt tử vong, buộc phải cắt toàn bộ tử cung vì sai lầm khi tự ý dùng thuốc phá thai
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Tai biến diễn tiến nhanh do tự ý dùng thuốc phá thai tại nhà buộc ê kíp phải phẫu thuật cấp cứu và cắt toàn bộ tử cung để cứu sống bệnh nhân.
Trí tuệ nhân tạo dự đoán biến chứng sức khỏe ở trẻ sinh non
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcViệc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong chăm sóc trẻ sinh non đang mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành Nhi khoa. Thay vì chỉ phản ứng khi triệu chứng xuất hiện, AI giúp các bác sĩ dự đoán và có hướng xử trí biến chứng từ sớm.
Vô sinh không do bệnh lý: 4 nguyên nhân bất ngờ đến từ lối sống nhiều người thường chủ quan
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcKhi nhắc đến vô sinh, hiếm muộn, nhiều người thường nghĩ ngay đến các vấn đề phức tạp tại tử cung, buồng trứng hay chất lượng tinh trùng kém do bệnh lý. Tuy nhiên, ít người biết rằng những thói quen sinh hoạt tưởng chừng vô hại lại đang âm thầm tước đi cơ hội làm cha mẹ của nhiều cặp đôi.
Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcXét nghiệm Pap (hay Pap smear) là một xét nghiệm quan trọng để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Thời điểm và tần suất thực hiện thường phụ thuộc vào độ tuổi, tiền sử sức khỏe của người phụ nữ.
Hưng Yên: Dấu ấn công tác dân số vùng biển và ven biển năm 2025
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Chi cục Dân số và Trẻ em tỉnh Hưng Yên đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động với cách làm linh hoạt, phù hợp đặc thù vùng biển và ven biển. Nổi bật là các mô hình truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và nâng cao chất lượng dân số.
Đau bụng dưới cảnh giác với xoắn buồng trứng
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcXoắn buồng trứng xảy ra chủ yếu với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tuy nhiên bệnh có thể xuất hiện ở cả phụ nữ mãn kinh, trẻ em thậm chí là trẻ sơ sinh.
Nhận biết dấu hiệu thụ thai thành công: Khi nào cơ thể bắt đầu thay đổi?
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcSau khi quá trình thụ tinh diễn ra, cơ thể người phụ nữ không thay đổi ngay lập tức mà cần một khoảng thời gian để các hormone bắt đầu kích hoạt. Việc theo dõi sát sao các thay đổi, dù là nhỏ nhất sẽ giúp bà mẹ có kế hoạch chăm sóc sức khỏe kịp thời.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.



