Hà Nội
23°C / 22-25°C

Gia đình với giáo dục SKSS tiền hôn nhân - Thực trạng và giải pháp

Thứ năm, 14:17 08/12/2011 | Dân số và phát triển

Con người, ai cũng sinh ra, trưởng thành trong từng môi trường gia đình và xã hội. Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hình thành nhân cách ban đầu của con người.

Môi trường xã hội rộng lớn hơn giúp con người xã hội hoá, tiếp tục phát triển và hoàn thiện nhân cách. Cuộc đời con người chia làm nhiều giai đoạn. Tuổi vị thành niên (VTN) và tiền hôn nhân (THN) là một giai đoạn chuyển hóa quan trọng về sức khỏe sinh sản. Hiện nay, tình trạng SKSS của nhóm VTN và THN là một vấn đề đáng báo động đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước, gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội. Giải quyết thực trạng bức xúc này là trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản tiền hôn nhân ở nước ta.
 
1. Thực trạng vai trò của gia đình trong giáo dục SKSS tiền hôn nhân.
 
Gia đình có vai trò to lớn trong giáo dục SKSS cho đối tượng tiền hôn nhân-nhóm dân số chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa của hôn nhân, gia đình. Vấn đề đặt ra là giáo dục SKSS cho các em như thế nào về mặt nội dung, phương pháp và hình thức cho phù hợp và có hiệu quả ?
 
Trước hết phải tìm hiểu trẻ THN đã được tiếp cận những nội dung cơ bản nào của SKSS ? Kết quả khảo sát của đề tài "Nhận thức về sức khoẻ sinh sản của đối tượng tiền hôn nhân ở Hà Nội" do Uỷ ban Dân số-Gia đình- Trẻ em Hà Nội tiến hành năm 2006 đưa ra các chỉ báo đáng lưu ý. Trong số 10 nội dung của SKSS các em thường xuyên được nghe nói về 1. Kế hoạch hoá gia đình 70.9% số THN trả lời, 2. Sức khoẻ sinh sản VTN 55.2%, 3. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục 52%, 4. Giáo dục giới tính, tình dục42.2%, 5. Giáo dục, truyền thông về SKSS 41.2%, 6. Giảm nạo hút thai và NHT an toàn 33.3%, 7. Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản 27.8%, 8. Làm mẹ an toàn 26.8%, 9. Vấn đề vô sinh 19.3%, 10. Phát hiện sớm ung thư vú và sinh dục 12.7%.
 
Các số liệu cho thấy chỉ riêng nội dung KHHGĐ có chỉ báo cao nhất 70.9%. Nhóm chỉ báo trung bình thuộc về các nội dung sức khoẻ SSVTN, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (từ 52%-55.2%). Các nội dung còn lại thuộc nhóm chỉ báo thấp là giáo dục giới tính, tình dục, giáo dục truyền thông về SKSS , giảm nạo hút thai và NHT an toàn, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, làm mẹ an toàn, vấn đề vô sinh, phát hiện sớm ung thư vú và sinh dục (từ 12.7%- 42.2%). Điều đó phản ánh một thực tế là nội dung DS-KHHGĐ quá quen thuộc với các em và gia đình các em vì nó gắn liền với chính sách giảm sinh và quy mô gia đình ít con. Nó đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến từng gia đình trong khắp cả nước trên bốn thập kỷ qua (từ năm 1960 đến nay). Các nội dung còn lại là những vấn đề mới mẻ, được đưa vào tuyên truyền sau khi có sự chuyển hướng tiếp cận từ DS-KHHGĐ sang dân số và phát triển; vấn đề chăm sóc SKSS được chú trọng hơn. Vấn đề cốt lõi trong SKSS vị thành niên là giáo dục tình dục nhưng hiện nay giáo dục tình dục vẫn chưa trở thành một hoạt động thường xuyên, công khai, rộng rãi. Đây là điều các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội, những người làm công tác tư vấn, truyền thông cần lưu ý để đáp ứng nhu cầu cung cấp kiến thức, kỹ năng chăm sóc SKSS cho nhóm VTN và THN. 
 
Những nội dung trên của SKSS được nhóm THN lĩnh hội từ nhiều nguồn thông tin khác nhau trong đó có sự giáo dục của ông bà, cha mẹ, anh chị em là những người có quan hệ ruột thịt và thân thiết của các em.
 
Khi được hỏi "Bạn biết được các thông tin về SKSS qua các kênh truyền thông nào ?" có 86.9% số trẻ THN biết từ nguồn ti vi, đài; 80.1% từ sách, báo, tạp chí; 53.9% từ bạn bè; 46.7% từ thầy cô giáo; 46.1% biết từ bố mẹ, người trong gia đình... [1]. Trong số 13 kênh thông tin đưa ra thì kênh thông tin từ bố mẹ, người trong gia đình được nhóm THN khẳng định với vị trí thứ năm. Điều này nói lên vai trò của gia đình trong việc tuyên truyền các kiến thức về SKSS cũng khá quan trọng. Khi được hỏi "Bạn thường trao đổi với ai về các chủ đề liên quan đến SKSS ?" chúng tôi đã nhận được các ý kiến trả lời sau. Các em thường xuyên trao đổi với bố mẹ -16.6%, anh chị em ruột-21.9%, bạn bè-37.7%, thầy cô giáo-6.6%, người yêu-13.9%, hàng xóm-6.6%, cán bộ tư vấn-7.9%. [2]
 
Như vậy, các em thường xuyên tâm sự, trao đổi những vấn đề về tình dục, tình yêu, giới tính, sự phát triển tâm sinh lý cá nhân v.v... nhiều nhất với những người trong gia đình- anh chị em ruột thịt và bố mẹ (38,5%). Xếp vị trí thứ hai là bạn bè-những người đồng lứa, dễ dàng thông cảm, chia sẻ những điều "thầm kín, khó nói" với các em. Thầy cô giáo và những người khác trong cộng đồng như người yêu, hàng xóm, cán bộ tư vấn các em có trao đổi nhưng ở mức độ còn hạn chế. Điều này thật dễ hiểu bởi xét về khía cạnh tâm lý xã hội, những người thân trong gia đình của các em là những người gần gũi nhất, đáng tin cậy nhất luôn quan tâm, giúp đỡ các em, là chỗ dựa cho các em trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, vẫn còn 25.2% bố mẹ, 17.9% anh chị em ruột của nhóm THN tổng cộng là 43.1% số gia đình chưa bao giờ trao đổi thông tin về SKSS với các em. Qua đó cho thấy, còn nhiều gia đình chưa thể hiện được vai trò giáo dục kiến thức, kỹ năng chăm sóc SKSS cho độ tuổi THN.
 
Dự án " Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (2002) đã cung cấp những số liệu rất đáng suy nghĩ. Trong gần 1500 gia đình được khảo sát tại các tỉnh phía Bắc thì có 0,7% số gia đình không trả lời; 37,6% khẳng định có giáo dục giới tính cho con và 61,7% trả lời không thực hiện giáo dục giới tính. Nếu tính theo vùng điều tra thì có 45,7% gia đình thành phố, 34,4% gia đình đồng bằng và 37,4% gia đình miền núi-trung du có thực hiện giáo dục giới tính cho con cái. Với 61,7% số gia đình trả lời không thực hiện giáo dục giới tính trong gia đình thì đưa ra các lý do khác nhau: con còn bé 69,7%, đó là chuyện khó nói 15,5%, không có lợi 8,9%, xưa nay không ai làm 7,5%, các lý do khác 7,1%.[3]
 
Các số liệu này cho thấy số đông các gia đình (61,7%) chưa ý thức được vai trò và chưa thực hiện giáo dục giới tính cho con cái. Họ vẫn chịu ảnh hưởng của văn hoá, của phong tục cổ truyền của gia đình và xã hội từ thời phong kiến. Hoặc họ chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về tình dục, giới tính, SKSS để có thể tự tin giáo dục cho con cái. Lý do còn bé chiếm gần 70% số gia đình trả lời cho thấy những gia đình này có thể hiểu chưa đúng về giáo dục giới tính, còn nhầm lẫn với giáo dục tình dục và DS-KHHGĐ. Ngoài ra, họ còn gặp khó khăn về quỹ thời gian giành cho con cái rất ít, nhất là con cái ở độ tuổi THN. Rất nhiều các bậc cha mẹ lao vào cuộc mưu sinh, nên chỉ gìanh thời gian chăm sóc cho các cháu nhỏ tuổi hơn, còn độ tuổi THN thì để chúng tự lập hoặc phó mặc cho nhà trường và các đoàn thể xã hội.
 
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: nội dung giáo dục giới tính và SKSS trong gia đình hiện nay chưa rõ ràng, chưa cụ thể, mà thường chỉ là những lời nhắc nhở chung chung và vẫn thiên về răn dạy đạo đức vì lo sợ con cái hư hỏng ảnh hưởng đến danh tiếng của gia đình, dòng họ. Mặt khác, cũng có thể do nhiều bậc cha mẹ còn thiếu kiến thức, thiếu thời gian để chăm sóc, giáo dục SKSS cho con cái của mình ở độ tuổi THN.
 
Song song với nội dung giáo dục là các biện pháp giáo dục SKSS của gia đình giành cho con cái ở độ tuổi VTN và THN. Trong số các biện pháp được nêu ra như trao đổi riêng, hướng dẫn cụ thể, nói xa xôi, cung cấp sách báo, khuyến khích tìm hiểu, nhờ người hướng dẫn có ba biện pháp được các em lựa chọn nhiều nhất. Đó là: trao đổi riêng 37.8%, hướng dẫn cụ thể 25.6%, cung cấp sách báo 17.8%. Các biện pháp khác có chỉ báo thấp hơn là :nhờ người giải thích 10.0%, nói xa xôi 5,6%, khuyến khích tìm hiểu 3,3%.[4]
 
Từ các kết quả nghiên cứu có thể rút ra nhận xét: gia đình hiện đại đã bắt đầu chú ý giáo dục giới tính, tình dục nói riêng và giáo dục SKSS nói chung cho con cái ở giai đoạn tiền hôn nhân nhưng còn rất nhiều khó khăn và hạn chế. Nhưng điều đáng trân trọng là gia đình đã bước đầu khẳng định mình là một trong ba chủ thể (gia đình, nhà trường và xã hội) đóng vai trò chính trong giáo dục SKSS tiền hôn nhân nói riêng và VTN nói chung.
 
2. Một số giải pháp nâng cao vai trò của gia đình trong chăm sóc SKSS tiền hôn nhân.
 
Thứ nhất, tăng cường công tác thông tin- giáo dục-truyền thông về chăm sóc SKSS vị thành niên nói chung và tiền hôn nhân nói riêng để nâng cao nhận thức, chuyển đổi thái độ, hành vi của các nhóm đối tượng vị thành niên, tiền hôn nhân và các bậc ông bà, cha mẹ. Thực tế cho thấy, còn nhiều các thành viên gia đình thiếu hụt kiến thức, kỹ năng chăm sóc SKSS vị thành niên và tiền hôn nhân nên thông tin-giáo dục-truyền thông phải chú ý bổ sung, nhấn mạnh những vấn đề giới tính, tình dục, tình bạn, tình yêu, SKSS vị thành niên và THN, vấn đề nạo phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và cách phòng tránh; những kiến thức về hôn nhân và gia đình; các phương pháp và hình thức giáo dục trẻ VTN, THN.
Mở thêm các chuyên mục về chăm sóc SKSS vị thành niên và THN trên các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí. Riêng "Tạp chí Gia đình và xã hội" cần đưa thêm dung lượng kiến thức, kỹ năng về chăm sóc SKSS vị thành niên và tiền hôn nhân cho các bậc cha mẹ tham khảo.
 
Song song với truyền thông đại chúng, cần đẩy mạnh hình thức truyền thông trực tiếp của các cán bộ đoàn thể xã hội như phụ nữ, thanh niên, cán bộ chuyên trách công tác dân số-gia đình-trẻ em, cán bộ y tế v.v...
 
Thứ hai, biên soạn và phổ biến các sách giáo khoa, các tài liệu tuyên truyền và các sách phổ biến kiến thức khoa học về SKSS vị thành nhiên, tiền hôn nhân phù hợp với các đối tượng giáo dục.
 
Kiến thức về SKSS vị thành niên còn rất mới mẻ, chưa được phổ biến sâu rộng trong các tầng lớp xã hội nước ta. Chính vì vậy, cần bổ sung sự thiếu hụt kiến thức này không chỉ cho trẻ VTN và THN mà còn cho các bậc cha mẹ, ông bà. Uỷ ban Dân số- Gia đình- Trẻ em cần phối hợp với Sở Văn hoá-Thông tin khôi phục và phổ biến các loại sách phổ thông dưới hình thức "Tủ sách gia đình"để tuyên truyền các kiến thức, kỹ năng về chăm sóc SKSS vị thành niên và tiền hôn nhân cho các thành viên gia đình.
 
Thứ ba, các bậc cha mẹ cần đổi mới về các biện pháp giáo dục SKSS cho con cái ở độ tuổi tiền hôn nhân. Đây là độ tuổi rất tò mò và có nhu cầu cao về giải toả tâm sinh lý. Các bậc cha mẹ không nên tỏ thái độ né tránh các vấn đề tình dục khi giáo dục con cái. Trái lại, cần chủ động trao đổi và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của chúng xung quanh các vấn đề liên quan đến SKSS và quan hệ tình dục, tình yêu. Nếu cha mẹ cảm thấy không thoải mái khi thảo luận về vấn đề này có thể tìm đến thầy cô giáo, hoặc những người có kinh nghiệm để nhờ họ hướng dẫn cách trao đổi với con cái ở độ tuổi tiền hôn nhân.
 
Thứ tư, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần phải nhanh chóng hoàn thiện và thông qua Chiến lược chăm sóc SKSS vị thành niên, trong đó có điều khoản giành riêng cho đối tượng tiền hôn nhân. Từ cuối năm 2000 chúng ta đã có Chiến lược Quốc gia về CSSKSS 2001-2010 và đã dự thảo chiến lược chăm sóc SKSS vị thành niên nhưng cho đến nay đã gần 6 năm mà chưa được phê duyệt. Cần phải khẩn trương hoàn thiện và thông qua Chiến lược này để gia đình, nhà trường và toàn xã hội càng nâng cao nhận thức và tích cực hành động chăm sóc SKSS nhóm VTN và THN.  
 
Thứ năm, điểm then chốt cuối cùng là phải kết hợp các môi trường giáo giữa gia đình, nhà trường và xã hội cho độ tuổi VTN và THN về giáo dục tình dục có ý thức, trách nhiệm, an toàn và lành mạnh. Nhà nước đứng ra chủ trì việc phối hợp, nhằm phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt thiếu sót của mỗi thiết chế đối với giáo dục, chăm sóc SKSS của VTN và THN. Gia đình cần phát huy mặt mạnh là tình cảm, tình thương và nêu gương để thuyết phục trẻ. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt, chú ý đến cá tính từng VTN và phối hợp nhiều người (ông bà, cha mẹ, anh chị). Nhà trường lại chú trọng mặt lý thuyết, cung cấp kiến thức, phương pháp tư duy đúng đắn và dùng ảnh hưởng của thầy cô giáo, của bạn bè để định hướng cho trẻ VTN và THN về cách ứng xử đúng mực trong quan hệ tình bạn, tình yêu và tình dục trong sáng và lành mạnh đồng thời có biện pháp phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Các đoàn thể, đặc biệt Đoàn thanh niên giáo dục trẻ VTN và THN bằng biện pháp tổ chức, thông qua sinh hoạt tập thể để nâng cao hiểu biết, kỹ năng chăm sóc SKSS và quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn. Các ban ngành, đoàn thể và tổ chức xã hội khác cần tổ chức bồi dưỡng mạng lưới tuyên truyền viên; lồng ghép nội dung SKSS vào các hoạt động của đoàn thể mình; tổ chức các câu lạc bộ, các trung tâm để thông tin, tư vấn về SKSS đồng thời tham gia tiếp thị xã hội và cung cấp các phương tiện tránh thai, bao cao su; tham gia kiểm tra, giám sát dịch vụ chăm sóc SKSS ở cộng đồng.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 1/2008), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 18 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top