Nguyên Tư lệnh Cảnh vệ kể chuyện bảo vệ Hội nghị Paris
GiadinhNet - Trong thời gian công tác ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Thiếu tướng Phan Văn Xoàn vinh dự được trực tiếp tham gia và chỉ đạo công tác bảo vệ nhiều hội nghị quan trọng. Tuy vậy, chuyến bảo vệ đoàn Chính phủ ta đi đàm phán với phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Paris từ năm 1968 đến 1972 đã để lại trong ông nhiều kỷ niệm sâu sắc.
Trong một chuyến công tác tại TP Hồ Chí Minh, chúng tôi đã được nghe Thiếu tướng Phan Văn Xoàn kể thêm nhiều điều thú vị về sự kiện này.
Mật danh “Đoàn 37”(*)
“Đầu tháng 4 năm 1968, sau khi nhận chỉ thị của đồng chí Trần Quốc Hoàn - Bộ trưởng Bộ Công an, lãnh đạo Cục Cảnh vệ đã thống nhất cử tôi và 10 đồng chí cán bộ Cảnh vệ bảo vệ đoàn Chính phủ ta đi đàm phán với phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Paris - Pháp. Ngày ấy tôi là Phó Cục trưởng, được cử phụ trách đội bảo vệ. Đội bảo vệ gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Lợi, Cao Năm, Lê Việt Hưng, Trần Hữu Diệt, Lê Văn Chúc, Nguyễn Quang Chiêm, Lê Văn Giáo, Trần Lại, Nguyễn Văn Tài và Phạm Văn Chuyên. Các đồng chí này đều là những cán bộ phấn đấu tốt, có nhiều kinh nghiệm trong công tác bảo vệ. Trước lúc lên đường, tôi được Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn gọi lên giao nhiệm vụ:
- Chuyến công tác này các đồng chí có nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo chủ chốt và cán bộ trong đoàn đàm phán; bảo vệ an toàn nơi ở và làm việc của đoàn; bảo vệ bí mật tài liệu và chủ trương kế hoạch đàm phán; bảo vệ nội bộ của cơ quan và các thành viên trong đoàn....
Tôi nhận nhiệm vụ và hứa với Bộ trưởng sẽ cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao cả mà Bộ trưởng giao. Khi về cơ quan tôi khẩn trương xây dựng kế hoạch bảo vệ rất cụ thể... Đoàn đàm phán của ta lần đầu đi có 37 đồng chí nên có mật danh là "Đoàn 37".
Đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy chụp ảnh lưu niệm với cán bộ Đoàn Chính phủ Việt Nam dự Hội nghị Paris tại Trường Chính trị Mô-Rít-Tô-Ri
Sáng 8/5/1968, đoàn chúng tôi xuất phát từ sân bay Gia Lâm, đáp xuống sân bay Bắc Kinh. Một số cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đón về khách sạn Bắc Kinh gần Quảng trường Thiên An Môn. Sáng sớm hôm sau cả đoàn ra máy bay đi Mát-xcơ-va. ở Mát-xcơ-va, chúng tôi nghỉ lại một buổi trên đồi Lê Nin rồi bay thẳng sang sân bay Lơ - Buốc - Giê (Paris).
Khi đến Pháp, Đại sứ quán của ta và chính phủ Pháp bố trí đoàn chúng tôi nghỉ tại khách sạn Luy-Tê-Xi-a. Thủ đô Paris những ngày tháng 5 năm 1968 rất phức tạp về an ninh trật tự. Quân đội Pháp được đặt trong tình trạng báo động, việc bảo vệ đoàn ta càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn.
Khách sạn Luy-Tê-Xi-a nằm ở quận 6, Thủ đô Paris, có 7 tầng, 315 phòng. Đoàn ta ở một số phòng trên tầng 2. Lực lượng cảnh sát Pháp bảo vệ đoàn ta ở dưới tầng 1. Khi chúng ta kiểm tra một số phòng mà đoàn ta ở đã phát hiện 16 máy ghi âm các loại (riêng phòng của đồng chí Xuân Thuỷ có 6 chiếc). Sau khi phát hiện, chúng tôi đã cảnh giác, tất cả các thành viên trong đoàn được quán triệt nghiêm túc công tác bảo mật, khi bàn công việc hoặc hội họp được đưa về Đại sứ quán. Những công việc cần phải bàn ngay chỉ được ra hiệu bằng tay hoặc viết ra giấy để trao đổi.
Xây dựng “phòng Hạnh phúc”
Sau khi ổn định nơi ăn ở, đại diện đoàn ta đi chào và thăm Đảng Cộng sản Pháp. Khi hỏi về nơi ăn ở và làm việc của đoàn ta, đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp đã mời đoàn ta về nghỉ và làm việc tại Trường Chính trị Mô-Rít-Tô-Ri ở thị xã Soa-đi-lơ-roa, ngoại ô Thủ đô Paris. Thấy đây là một địa điểm rất thuận lợi cho công tác bảo vệ đoàn, tôi đề nghị Bộ trưởng Xuân Thuỷ nên cho đoàn về đó. Bộ trưởng đồng ý ngay.
Ngoài việc cho đoàn ta mượn cơ sở vật chất của Trường Mô-Rít-Tô-Ri, các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp còn tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn ta trong sinh hoạt và công tác như bố trí 10 bảo vệ, 10 lái xe và 10 người phục vụ... hầu hết là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp.
Gần một tháng sau, ngày 3/6/1968 đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Paris. Đội bảo vệ của chúng tôi được tăng thêm 10 người phối hợp với đội bảo vệ của Đảng Cộng sản Pháp do đồng chí Rô be phụ trách lo canh gác bên trong trụ sở, phía ngoài do cảnh sát và an ninh Pháp bảo vệ suốt ngày đêm 24/24 giờ. Ban đêm, Cảnh vệ chúng tôi cắt phiên tuần tra xung quanh nhà, đặc biệt chú ý cổng sau rất thấp, ăn ra một ngõ hẹp không có cảnh sát Pháp canh gác.
Quang cảnh trước Phòng họp Hội nghị Paris khi đoàn ta đến địa điểm họp tại Hội trường Clê-be.
Đồng chí Lê Đức Thọ vừa sang đến nơi, khi thấy chúng tôi chưa chuẩn bị phòng bảo mật như đồng chí dặn từ trong nước, đồng chí không hài lòng và chỉ đạo bộ phận kỹ thuật làm ngay. Trong ba ngày thì phòng bảo mật được làm xong. Đây là một căn phòng đặc biệt, được xây dựng với nhiều bức tường cách âm, chống máy móc và các dây hữu tuyến thâm nhập để nghe trộm. Từ đó khi báo cáo tình hình bí mật, công tác bảo vệ nội bộ, kế hoạch đấu tranh với Mỹ... đều được tổ chức ở phòng này. Chúng tôi gọi phòng đó là "phòng Hạnh phúc".
Địa điểm đàm phán giữa ta với Mỹ được Chính phủ Pháp bố trí tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Clê-be gần Khải Hoàn Môn. Một buổi sáng, ngài Giám đốc cảnh sát Paris gặp tôi và nói:
- Tôi đã bàn với An ninh Pháp các biện pháp bảo vệ đoàn Việt Nam, mời ông đến kiểm tra nơi họp, nơi nghỉ giải lao của đoàn.
Thấy thái độ hết sức nghiêm túc của ngài Giám đốc, tôi trả lời:
- Xin cảm ơn các ngài đã giúp chúng tôi trong công tác bảo vệ, chúng tôi không cần phải kiểm tra. Chúng tôi tin ở các ngài.
Ngài Giám đốc cảnh sát rất vui và ông đề nghị hàng tuần, hai bên gặp nhau để hội ý và rút kinh nghiệm trong quá trình bảo vệ hội nghị.
Cảm động trước tinh thần vì Việt Nam
Một buổi tối, chúng tôi cùng lãnh đạo đoàn đến dự một hội nghị lớn có rất đông kiều bào ta tổ chức tại nhà Tương tế ở khu phố La tinh nhìn ra Quảng trường Mô-be. Kết thúc cuộc họp vào lúc 24 giờ, chúng tôi trở về trụ sở. Xe mô tô hộ tống của cảnh sát chạy với tốc độ cao trên đường Soa-đi. Đến gần trung tâm thị xã Soa-đi-lơ-roa, một chiếc ô tô đâm vào chiếc mô tô hộ tống dẫn đường. Người cảnh sát hộ tống đã hy sinh.
Hôm sau, đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thuỷ cử tôi và một số cán bộ trong đoàn đến gia đình viên cảnh sát để chia buồn. Tôi mua cho người con gái 3 tuổi của người cảnh sát một bộ váy đầm và đến thắp hương. Gia đình anh rất xúc động, người vợ nói:
- Chồng tôi hy sinh vì nhiệm vụ, đây là sự mất mát lớn đối với tôi và gia đình. Tôi biết Việt Nam cũng rất gian khổ phải chịu đựng chiến tranh do Mỹ gây ra. Chồng tôi qua đời cũng là góp một phần nhỏ bé vào cuộc đấu tranh đó.
Thăm gia đình xong, chúng tôi mang vòng hoa đến viếng người cảnh sát tại tiểu đoàn mô tô hộ tống. Sau khi làm lễ, tiểu đoàn trưởng cảm ơn và nói với tôi:
- Việc làm của các ngài khiến chúng tôi rất cảm động, đề nghị ngài cho phép chúng tôi được thay nhau đi bảo vệ đoàn của các ngài được tốt hơn.
Một thời gian sau đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam đến Paris để dự hội nghị 4 bên. Số cán bộ của đoàn đàm phán ta ở Paris lúc đó lên tới gần 200 người. Công tác bảo vệ gặp nhiều khó khăn mới.
Khi Tiến sĩ H. Kit-xinh-giơ, Cố vấn đặc biệt về An ninh quốc gia của Nhà Trắng đến Paris để gặp riêng Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ, tôi chủ động thảo luận với Chuẩn tướng phụ trách bảo vệ đoàn Mỹ về các biện pháp cụ thể giữ bí mật các cuộc họp kín của hai bên. Để đánh lạc hướng phóng viên báo chí, tôi đã bàn với lái xe Pháp khi lãnh đạo đoàn ta đi họp với H. Kit-xinh-giơ mà thấy phóng viên đuổi theo thì xe chạy loanh quanh như đang đi tham quan một số nơi như chợ, công viên v.v... rồi bất ngờ lên xe đến địa điểm họp…
Sau 04 năm 8 tháng 20 ngày, với 201 phiên họp công khai, 45 phiên họp bí mật, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc gặp gỡ Việt kiều, ngày 27/01/1973, Hội nghị Paris về Việt Nam đã được ký chính thức.
Nguyễn Đức Quý
Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn (Nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ)(*).
Tít chính và tít phụ do Tòa soạn đặt.
Thông báo