Hà Nội
23°C / 22-25°C

Thực trạng người cao tuổi và các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi ở Hà Tây

Thứ ba, 15:32 22/11/2011 | Dân số và phát triển

Để đánh giá thực trạng vai trò và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (CNT) đồng thời đề xuất một số giải pháp, chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây đã tổ chức điều tra nghiên cứ thực trạng, vai trò và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở Hà Tây.

I. Kết quả nghiên cứu
 
1. Thực trạng người cao tuổi ở Hà Tây

1.1. Trình độ người cao tuổi ở Hà Tây

Bảng 1: Trình độ học vấn người cao tuổi
 

Đáng lưu ý là tỷ lệ NCT còn mù chữ ở khu vực thành thị là 7,7%, ở khu vực nông thôn có tỷ lệ cao tới 42,5%.
 
1.2. Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi
 
Bảng 2. Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi
 

Số liệu bảng 2 cho thấy: Người cao tuổi ở khu vực thành thị đang có vợ hoặc chồng có tỷ lệ là 77,4%, ở khu vực nông thôn là 54,3%. Đặc biệt lưu ý số người cao tuổi goá vợ, ly hôn, ly thân ở Hà Tây có tỷ lệ khá cao (36,8%). Trong đó ở khu vực thành thị là 22,6% ở khu vực nông thôn người cao tuổi goá, ly hôn, ly thân có tỷ lệ rất cao (44,4%). Tình hình này cho thấy cần phải có giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi bị cô đơn có hoàn cảnh khó khăn.

1.3. Thành phần xã hội của người cao tuổi
 
Bảng 3. Thành phần xã hội của người cao tuổi
Số liệu bảng 3 cho thấy:

- Ở thành thị đa số người cao tuổi là cán bộ công chức nghỉ hưu (83,9%) chỉ có 10,7% người cao tuổi ở thành thị là nông dân.

- Ở nông thôn: có tới 93,1% người cao tuổi là thành phần nông dân sống không có lương hưu mà sống bằng sức lao động của mình hoặc có sự hỗ trợ về kinh tế của con cháu.

1.4. Các nhu cầu về vật chất của người cao tuổi
Bảng 4: Quỹ chi tiêu riêng
Số liệu bảng 4 cho thấy:

- Người cao tuổi ở Hà Tây có quỹ chi tiêu riêng, có tỷ lệ là 32,7% không có quỹ chi tiêu riêng là 54,5%.

- Ở khu vực thành thị người cao tuổi có quý chi tiêu riêng là 51,8% trong khi đó ở khu vực nông thôn người cao tuổi có quỹ chi tiêu riêng chỉ là 22,5%. Người cao tuổi ở nông thôn không có quỹ chi tiêu riêng chiếm tới 60,3%.
 
- 60,4% cụ ông và 50,8% cụ bà không có quỹ chi tiêu riêng.

- 25% người cao tuổi chưa có vợ, chồng không có quỹ chi tiêu riêng và 55,1% người cao tuổi goá, ly hôn ly thân cũng không có quỹ chi riêng.

- Có tới 96,3% người cao tuổi là nông dân không có quỹ chi tiêu riêng và 35,1% là cán bộ công chức nghỉ hưu không có quỹ chi tiêu riêng.

1.5. Các nguồn thu nhập của người cao tuổi
 
Bảng 5. Nguồn thu nhập bình quân hàng tháng theo khu vực
 
Số liệu trên cho thấy:

- 39,75% người cao tuổi ở Hà Tây có nguồn thu nhập từ lương hưu, trợ cấp mất sức.

- 24,01% người cao tuổi ở Hà Tây có nguồn thu nhập từ con cháu biếu, đóng góp.

- Và 21,53% người cao tuổi ở Hà Tây vẫn phải lao động trực tiếp để có thu nhập.
1.6. Nhu cầu về nhà ở của người cao tuổi.

- Số liệu cho thấy: Ở khu nông thôn người cao tuổi ở nhà tạm và nhà tranh tre chiếm tỷ lệ là 5,0% và 78,4% người cao tuổi ở loại nhà cấp 4 (3 loại nhà này đều không đầy đủ tiện nghi).

- Trong khi đó ở khu vực thành thị 48,8% người cao tuổi được ở trong loại nhà xây kiên cố và 17,3% người cao tuổi ở khu vực này được ở loại nhà xây kiên cố đầy đủ tiện nghi.

- 67,3% người cao tuổi ở khu vực thành thị có phòng riêng trong nhà ở.

- Ở khu vực nông thôn chỉ có 1,6% người cao tuổi ở nhà đủ tiện nghi và 27,9% người cao tuổi ở nông thôn có phòng riêng trong nhà ở.
 
1.7. Nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở của người cao tuổi.

- Nhu cầu về ăn của người cao tuổi ở khu vực thành thị 36,9% cho là rất đủ, 61,9% là tạm đủ, chỉ có 1,19% cho là thiếu.

- Ở khu vực nông thôn chỉ có 16,5% người cao tuổi cho là ăn rất đủ và 77,1% là ăn tạm đủ, còn 6,34% là ăn thiếu và quá thiếu.

- Nhu cầu về ăn mặc của người cao tuổi ở khu vực thành thị là 36,3% cho là rất đủ, 63,1% cho là tạm đủ. Còn khu vực nông thôn 76,8% cho là tạm đủ và 4,75% cho là thiếu và quá thiếu.

1.8. Nhu cầu lao động và mục đích lao động.

Số liệu cho thấy: Người cao tuổi ở khu vực thành thị có nhu cầu lao động là 25,6%, ở nông thôn là 28,3%.

Người cao tuổi ở thành thị không có nhu cầu lao động là 74,4%, ở nông thôn là 71,7%.

Người cao tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn có mục đích lao động để kiếm tiền để sống có tỷ lệ tương đương nhau (15,5% và 16,5%).

Người lao động có mục đích lao động để làm vui tuổi già, ở thành thị là 79,8%, nông thôn là 57,1%.

1.9. Sử dụng phương tiện truyền thông.

Số liệu cho thấy: Người cao tuổi ở khu vực thành thị, sử dụng các phương tiện truyền thông: Đài, ti vi, sách báo và máy vi tính đều có tỷ lệ cao hơn người ở khu vực nông thôn. Người cao tuổi chủ yếu nghe đài và xem ti vi.

Nhu cầu xem sách báo của người cao tuổi ở thành thị là 35,1%, ở khu vực nông thôn có 11,&% (rất thiếu sách báo).

1.10. Các buổi sinh hoạt văn hoá tinh thần của người cao tuổi.

Bảng 6: Sinh hoạt văn hoá, tinh thần của người cao tuổi theo khu vực
Số liệu bảng 6 cho thấy: các sinh hoạt văn hoá tinh thần của người cao tuổi ở nông thôn và thành thị có sự chênh lệch nhau nhiều. Trong 6 nội dung sinh hoạt văn hoá tinh thần của người cao tuổi chúng tôi tháy tỷ lệ người cao tuổi ở nông thôn không hoạt động văn hoá tinh thần có tỷ lệ cao hơn người cao tuổi ở thành thị, có thể do điều kiện kinh tế và phương tiện đi lại ở nông thôn khó khăn hoăn ở thành thị.

1.11. Nhu cầu tình dục của người cao tuổi.

Bảng 7: Nhu cầu tình dục của người cao tuổi phân theo khu vực và nhóm tuổi.
Số liệu bảng 7 cho thấy nhu cầu tình dục của người cao tuổi ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (22% và 6%). Từ 60-64 tuổi có nhu cầu tình dục là 18,9%. 65-69 tuổi có nhu cầu tình dục là 4,7%. Có nhu cầu tình dục của cụ ông là 18,7%, các cụ bà là 9,6% (bằng 50% các cụ ông)
 
Bảng 8: Hình thức quan hệ tình dục của người cao tuổi
Số liệu bảng 8 cho thấy: 21,4% người cao tuổi ở khu vực thành thị có quan hệ tình dục thực sự và 20,2% người cao tuổi cho là thoải mái khi quan hệ tình dục, 17,9% người cao tuổi có quan hệ tình dục nhưng hạn chế (vì bất lực).

- 12,7% người cao tuổi ở khu vực nông thôn có quan hệ tình dục thực sự, 8,9% người cao tuổi ở khu vực này có quan hệ tình dục nhưng hạn chế (vì bất lực).

- 24,8% người cao tuổi ở độ tuổi 60-64 có quan hệ tình dục thực sự, đến tuổi 65-69 tỷ lệ người cao tuổi có quan hệ tình dục giảm xuống còn 7,6%. Từ 70 tuổi trở lên hoàn toàn không còn quan hệ tình dục thực sự.

- 22,5% các cụ ông có quan hệ tình dục thực sự, chỉ có 11,6% các cụ bà có quan hệ tình dục thực sự.

- 8,3% người cao tuổi cảm thấy thoải mái khi quan hệ tình dục.

- 12,3% người cao tuổi có cảm giác thoải mái nhưng hạn chế.

- 2% người cao tuổi cảm thấy khó chịu khi quan hệ tình dục.

III. Các giải pháp đáp ứng một số nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

1. Đẩy mạnh việc nghiên cứu quá trình già hoá dân số ở Việt Nam nói chung và ở Hà Tây nói riêng để làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi chính sách, chiến lược nhằm đối phó với xu hướng già hoá dân số đang diễn ra ngày càng nhanh về cả số lượng và tỷ lệ ở nước ta.

2. Khi xây dựng các chính sách đối với người cao tuổi, cần đặc biệt chú ý đến phụ nữ, nhất là phụ nữ đơn côi, không nơi nương tựa khi tuổi già, khi ốm đau. Đối với các xã thực hiện dự án cần có giải pháp can thiệp cụ thể đến các đối tượng này nhằm đáp ứng các nhu cầu này về tinh thần và vật chất đối với người cao tuổi.

3. Khi xây dựng các chính sách đối với người cao tuổi cần chú ý khu vực nông thôn (vì còn nhiều khó khăn). Đề nghị Nhà nước cho triển khai chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân. Khuyến khích nông dân "lo cho tuổi già khi còn trẻ" để họ tích cực tham gia đóng bảo hiểm xã hội khi Nhà nước cho triển khai chế độ bảo hiểm.

4. Đẩy mạnh việc nghiên cứu các hình thức hoạt động kinh tế phù hợp với người cao tuổi nhằm tăng nguồn thu nhập cho người cao tuổi. Động viên và sử dụng các tiềm năng lao động của người cao tuổi, đặc biệt cần khuyến khích các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện cho người cao tuổi được làm việc tăng thu nhập và tạo nên sự thoải mái về tinh thần, vật chất cho người cao tuổi.

5. Đề xuất với Nhà nước ban hành chính sách khuyến khích gia đình nhiều thế hệ, để người cao tuổi được sống trong gia đình, vui chơi cùng con cháu. Nâng cao tính tự lực của người cao tuổi, phổ biến kiến thức sống hoà hợp giữa các thế hệ trong gia đình. Bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi.

6. Đề nghị các cấp chính quyền tạo điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất cho Hội người cao tuổi hoạt động; thể dục thể thao, tham quan du lịch, lễ hội, tổ chức các câu lạc bộ thơ ca, sách báo, bơi lội, đánh cờ...

7. Tổ cức các lớp học bình dân để khuyến khích một số cụ chưa biết chữ đến học, học làm gương cho con cháu. Tạo điều kiện để người cao tuổi được tiếp cận các thông tin về kinh tế-xã hội.

8. Nhà nước, gia đình, cộng đồng cần quan tâm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho người cao tuổi được sống vui chơi, sống khoẻ và sống có ích cho xã hội.
 
9. Nhà nước và các cơ sở y tế cần có chế độ, chính sách để chăm sóc khám sức khoẻ định kỳ, tổ chức mạng lưới cộng tác viên ở thôn xóm để chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà. Phòng bệnh và điều trị kịp thời các bệnh mà người cao tuổi thường gặp.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 3/2004), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 21 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top