Thực trạng người cao tuổi và các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi ở Hà Tây
Để đánh giá thực trạng vai trò và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (CNT) đồng thời đề xuất một số giải pháp, chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây đã tổ chức điều tra nghiên cứ thực trạng, vai trò và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở Hà Tây.
1.1. Trình độ người cao tuổi ở Hà Tây
![]() |
Đáng lưu ý là tỷ lệ NCT còn mù chữ ở khu vực thành thị là 7,7%, ở khu vực nông thôn có tỷ lệ cao tới 42,5%.
![]() |
Số liệu bảng 2 cho thấy: Người cao tuổi ở khu vực thành thị đang có vợ hoặc chồng có tỷ lệ là 77,4%, ở khu vực nông thôn là 54,3%. Đặc biệt lưu ý số người cao tuổi goá vợ, ly hôn, ly thân ở Hà Tây có tỷ lệ khá cao (36,8%). Trong đó ở khu vực thành thị là 22,6% ở khu vực nông thôn người cao tuổi goá, ly hôn, ly thân có tỷ lệ rất cao (44,4%). Tình hình này cho thấy cần phải có giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi bị cô đơn có hoàn cảnh khó khăn.
![]() |
- Ở thành thị đa số người cao tuổi là cán bộ công chức nghỉ hưu (83,9%) chỉ có 10,7% người cao tuổi ở thành thị là nông dân.
- Ở nông thôn: có tới 93,1% người cao tuổi là thành phần nông dân sống không có lương hưu mà sống bằng sức lao động của mình hoặc có sự hỗ trợ về kinh tế của con cháu.
![]() |
- Người cao tuổi ở Hà Tây có quỹ chi tiêu riêng, có tỷ lệ là 32,7% không có quỹ chi tiêu riêng là 54,5%.
- 25% người cao tuổi chưa có vợ, chồng không có quỹ chi tiêu riêng và 55,1% người cao tuổi goá, ly hôn ly thân cũng không có quỹ chi riêng.
- Có tới 96,3% người cao tuổi là nông dân không có quỹ chi tiêu riêng và 35,1% là cán bộ công chức nghỉ hưu không có quỹ chi tiêu riêng.
![]() |
- 39,75% người cao tuổi ở Hà Tây có nguồn thu nhập từ lương hưu, trợ cấp mất sức.
- 24,01% người cao tuổi ở Hà Tây có nguồn thu nhập từ con cháu biếu, đóng góp.
- Và 21,53% người cao tuổi ở Hà Tây vẫn phải lao động trực tiếp để có thu nhập.
1.6. Nhu cầu về nhà ở của người cao tuổi.
- Số liệu cho thấy: Ở khu nông thôn người cao tuổi ở nhà tạm và nhà tranh tre chiếm tỷ lệ là 5,0% và 78,4% người cao tuổi ở loại nhà cấp 4 (3 loại nhà này đều không đầy đủ tiện nghi).
- Trong khi đó ở khu vực thành thị 48,8% người cao tuổi được ở trong loại nhà xây kiên cố và 17,3% người cao tuổi ở khu vực này được ở loại nhà xây kiên cố đầy đủ tiện nghi.
- 67,3% người cao tuổi ở khu vực thành thị có phòng riêng trong nhà ở.
- Nhu cầu về ăn của người cao tuổi ở khu vực thành thị 36,9% cho là rất đủ, 61,9% là tạm đủ, chỉ có 1,19% cho là thiếu.
- Ở khu vực nông thôn chỉ có 16,5% người cao tuổi cho là ăn rất đủ và 77,1% là ăn tạm đủ, còn 6,34% là ăn thiếu và quá thiếu.
- Nhu cầu về ăn mặc của người cao tuổi ở khu vực thành thị là 36,3% cho là rất đủ, 63,1% cho là tạm đủ. Còn khu vực nông thôn 76,8% cho là tạm đủ và 4,75% cho là thiếu và quá thiếu.
1.8. Nhu cầu lao động và mục đích lao động.
Số liệu cho thấy: Người cao tuổi ở khu vực thành thị có nhu cầu lao động là 25,6%, ở nông thôn là 28,3%.
Người cao tuổi ở thành thị không có nhu cầu lao động là 74,4%, ở nông thôn là 71,7%.
Người cao tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn có mục đích lao động để kiếm tiền để sống có tỷ lệ tương đương nhau (15,5% và 16,5%).
Người lao động có mục đích lao động để làm vui tuổi già, ở thành thị là 79,8%, nông thôn là 57,1%.
1.9. Sử dụng phương tiện truyền thông.
Số liệu cho thấy: Người cao tuổi ở khu vực thành thị, sử dụng các phương tiện truyền thông: Đài, ti vi, sách báo và máy vi tính đều có tỷ lệ cao hơn người ở khu vực nông thôn. Người cao tuổi chủ yếu nghe đài và xem ti vi.
Nhu cầu xem sách báo của người cao tuổi ở thành thị là 35,1%, ở khu vực nông thôn có 11,&% (rất thiếu sách báo).
1.10. Các buổi sinh hoạt văn hoá tinh thần của người cao tuổi.
![]() |
1.11. Nhu cầu tình dục của người cao tuổi.
![]() |
![]() |
- 12,7% người cao tuổi ở khu vực nông thôn có quan hệ tình dục thực sự, 8,9% người cao tuổi ở khu vực này có quan hệ tình dục nhưng hạn chế (vì bất lực).
- 24,8% người cao tuổi ở độ tuổi 60-64 có quan hệ tình dục thực sự, đến tuổi 65-69 tỷ lệ người cao tuổi có quan hệ tình dục giảm xuống còn 7,6%. Từ 70 tuổi trở lên hoàn toàn không còn quan hệ tình dục thực sự.
- 22,5% các cụ ông có quan hệ tình dục thực sự, chỉ có 11,6% các cụ bà có quan hệ tình dục thực sự.
- 8,3% người cao tuổi cảm thấy thoải mái khi quan hệ tình dục.
- 12,3% người cao tuổi có cảm giác thoải mái nhưng hạn chế.
- 2% người cao tuổi cảm thấy khó chịu khi quan hệ tình dục.
III. Các giải pháp đáp ứng một số nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.
1. Đẩy mạnh việc nghiên cứu quá trình già hoá dân số ở Việt Nam nói chung và ở Hà Tây nói riêng để làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi chính sách, chiến lược nhằm đối phó với xu hướng già hoá dân số đang diễn ra ngày càng nhanh về cả số lượng và tỷ lệ ở nước ta.
2. Khi xây dựng các chính sách đối với người cao tuổi, cần đặc biệt chú ý đến phụ nữ, nhất là phụ nữ đơn côi, không nơi nương tựa khi tuổi già, khi ốm đau. Đối với các xã thực hiện dự án cần có giải pháp can thiệp cụ thể đến các đối tượng này nhằm đáp ứng các nhu cầu này về tinh thần và vật chất đối với người cao tuổi.
3. Khi xây dựng các chính sách đối với người cao tuổi cần chú ý khu vực nông thôn (vì còn nhiều khó khăn). Đề nghị Nhà nước cho triển khai chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân. Khuyến khích nông dân "lo cho tuổi già khi còn trẻ" để họ tích cực tham gia đóng bảo hiểm xã hội khi Nhà nước cho triển khai chế độ bảo hiểm.
4. Đẩy mạnh việc nghiên cứu các hình thức hoạt động kinh tế phù hợp với người cao tuổi nhằm tăng nguồn thu nhập cho người cao tuổi. Động viên và sử dụng các tiềm năng lao động của người cao tuổi, đặc biệt cần khuyến khích các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện cho người cao tuổi được làm việc tăng thu nhập và tạo nên sự thoải mái về tinh thần, vật chất cho người cao tuổi.
5. Đề xuất với Nhà nước ban hành chính sách khuyến khích gia đình nhiều thế hệ, để người cao tuổi được sống trong gia đình, vui chơi cùng con cháu. Nâng cao tính tự lực của người cao tuổi, phổ biến kiến thức sống hoà hợp giữa các thế hệ trong gia đình. Bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi.
6. Đề nghị các cấp chính quyền tạo điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất cho Hội người cao tuổi hoạt động; thể dục thể thao, tham quan du lịch, lễ hội, tổ chức các câu lạc bộ thơ ca, sách báo, bơi lội, đánh cờ...
7. Tổ cức các lớp học bình dân để khuyến khích một số cụ chưa biết chữ đến học, học làm gương cho con cháu. Tạo điều kiện để người cao tuổi được tiếp cận các thông tin về kinh tế-xã hội.







