|
|
| PGS.TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế phát biểu khai mạc Hội nghị. |
Tham dự Hội nghị có PGS.TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế; TS. Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; TS. Nguyễn Duy Khê, Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em; GS.TS Lê Vũ Anh, Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế công cộng; bà Mandeep O’Brien, Quyền Trưởng đại diện UNFPA; ông Wu Guogao, Phó Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam; Lãnh đạo các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, hoạch định chính sách đến từ nhiều trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu, các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế.
Hội nghị được tổ chức nhằm mục tiêu chia sẻ và thảo luận các kết quả nghiên cứu mới nhất về lĩnh vực SKSS/SKTD tại Việt Nam, thảo luận ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình về SKSS/SKTD tại Việt Nam, cũng như định hướng nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực SKSS/SKTD trong giai đoạn tiếp theo.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Việt Tiến cho biết: Tăng cường nghiên cứu khoa học, phổ biến và ứng dụng các kết quả nghiên cứu các tiến bộ khoa học, công nghệ góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề đối với công tác Dân số và Chăm sóc sức khỏe sinh sản như: duy trì mức sinh thấp hợp lý, giảm chênh lệch tỷ suất giới tính khi sinh, giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ phá thai và tăng cường chăm sóc SKSS cho VTN/TN, người cao tuổi và cho các nhóm dân tộc đặc thù (nhiễm HIV, dân tộc thiểu số).
Số liệu của Bộ Y tế và các điều tra dân số khác cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc lồng ghép kế hoạch hóa gia đình vào dịch vụ y tế, đồng thời củng cố các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, một số nhóm dân số như vị thành niên, thanh niên và những người chưa kết hôn, di cư, dân tộc thiểu số và người cao tuổi còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tình dục và sinh sản. Vì thế, trường hợp có thai ngoài ý muốn vẫn tăng đáng kể, dẫn tới tỷ lệ nạo phá thai cao, đặc biệt trong nhóm thanh niên và người chưa kết hôn. Phân tích số liệu gần đây từ Điều tra đánh giá các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2010 cho thấy hơn 10% thanh niên còn chưa được đáp ứng các dịch vụ sức khỏe tình dục và sinh sản.
Ngoài ra, còn nhiều trường hợp tử vong mẹ xảy ra tại các vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, các lây nhiễm qua đường tình dục (bao gồm HIV) tiếp tục là một trở ngại. Điều này cho thấy chúng ta cần phải có nhiều nỗ lực hơn nữa để có thể giải quyết những thách thức này.
Phát biểu tại hội nghị, bà Mandeep K. O'Brien, Quyền Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam nhấn mạnh: "Chúng ta cần lồng ghép sức khỏe sinh sản vào tất cả các kế hoạch phát triển và giảm nghèo. Đầu tư cho phổ cập tiếp cận sức khỏe sinh sản là đầu tư thiết yếu cho sức khỏe toàn dân và giúp mang lại một tương lai bền vững hơn. Đầu tư cho sức khỏe của phụ nữ trong thời gian họ mang thai và sinh con sẽ không chỉ giúp cứu sống phụ nữ mà còn đem lại lợi ích kép cho gia đình, cộng đồng và quốc gia".
Sau một ngày làm việc, các bài trình bày tại hội nghị đã cho thấy toàn cảnh của các nghiên cứu trong lĩnh vực SKSS/SKTD thực hiện trong giai đoạn 2006-2010 ở Việt Nam, thực trạng và những thách thức đối với công tác CSSKSS ở Việt Nam, định hướng thực hiện chiến lược DS-SKSS ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
Hội nghị cũng được nghe bài trình bày của các chuyên gia quốc tế về các vấn đề SKSS/SKTD ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và định hướng nghiên cứu trong tương lai. Trong bài phát biểu của mình, bà Mandeep K O'Brien đưa ra các khuyến nghị để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu tiếp cận phổ cập với chăm sóc Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục vào năm 2015.
Kết quả hội nghị sẽ được sử dụng cho việc định hướng các nghiên cứu tới đây về lĩnh vực sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ở Việt Nam, góp phần đạt được tiếp cận phổ cập chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản vào năm 2015.
Tại hội nghị, Bộ Y tế, Trường Đại học Y tế Công Cộng và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cam kết tiếp tục hợp tác chặt chẽ để đảm bảo thành tựu và tính bền vững của hệ thống chăm sóc sức khỏe tình dục và sinh sản ở Việt Nam; Chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm kế hoạch hóa gia đình tự nguyện là bảo vệ sức khỏe cho thanh niên, phụ nữ và con cái của họ.
PV