Mắc thalassemia vẫn có thể sinh con khỏe mạnh với kỹ thuật mới này

| Y tế

GiadinhNet - Với sự thành công của kỹ thuật chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm, loại trừ bệnh lý tan máu bẩm sinh (thalassemia), GS.TS Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia đánh giá, điều này đã mở ra “chân trời mới” cho những cặp vợ chồng không may mang bệnh di truyền này.

7h55 ngày 15/9, con trai chị T đã chào đời hoàn toàn khỏe mạnh, không mang gene bệnh thalassemia, dù bố mẹ bé đều mang bệnh này. Ảnh: PV
7h55 ngày 15/9, con trai chị T đã chào đời hoàn toàn khỏe mạnh, không mang gene bệnh thalassemia, dù bố mẹ bé đều mang bệnh này. Ảnh: PV

11 năm chờ đợi đứa con khỏe mạnh

Chị Hồ Y.T (38 tuổi) là người dân tộc Giẻ Triêng, tỉnh Gia Lai. Năm 2006, anh chị đón đứa con gái đầu lòng, khỏe mạnh. 6 năm sau, chị mang bầu lần thứ 2, nhưng đến lúc thai 23 tuần, thai bị phù, chết lưu, chị phải mổ lấy thai. Tình trạng này lặp lại vào năm 2014 khi ở tuần thai thứ 24. Chị T băn khoăn lắm, vì bao nhiêu hi vọng, mong chờ đón con lại tắt ngúm khi con chỉ mới bước vào tháng 7 thai kỳ.

Đau đớn, hoang mang khiến chị T và anh Nguyễn Văn Th - chồng chị đi đến rất nhiều bệnh viện chữa trị. Anh chị rất bất ngờ vì kết quả xét nghiệm di truyền cho thấy, cả hai vợ chồng đều mang gene bệnh alpha thalassemia thể dị hợp. Với cặp vợ chồng người Giẻ Triêng nơi núi rừng Tây Nguyên này, đây là lần đầu tiên họ biết đến căn bệnh có cái tên lạ đó. Họ càng bất ngờ hơn, khi chính gene bệnh này đã gây nên chứng phù thai mà lần mang thai thứ 2, thứ 3 của chị gặp phải.

Không giấu được vẻ xúc động khi thay mặt gia đình cảm ơn các chuyên gia, bác sĩ, chị Trần Thị Hương, chị dâu của chị Y.T cho biết, đằng đẵng hơn 10 năm trời, vợ chồng em chị đi khắp các bệnh viện để mong tìm kiếm thêm một đứa con khỏe mạnh. Cả hai vợ chồng đều có ngoại hình hoàn toàn bình thường, không có biểu hiện bệnh, nên khi biết tin bản thân mang gene di truyền, ai cũng hoang mang.

Giữa năm 2016, nhờ được mách bảo, vợ chồng chị T ra Bệnh viện Phụ sản Trung ương khám. Một tháng sau, anh chị làm xét nghiệm ở Trung tâm Chẩn đoán trước sinh và sơ sinh. Tháng 12/2016, anh chị chính thức thực hiện thụ tinh ống nghiệm.

GS.TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia - người trực tiếp điều trị cho vợ chồng chị Y.T cho biết, với 7 phôi được chọn lọc, anh chị chỉ có 2 phôi hoàn toàn bình thường, 3 phôi mang gene bệnh.

TS Hồ Sỹ Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia chia sẻ, các bác sĩ đã sinh thiết bằng kỹ thuật rút ra một tế bào từ phôi khỏe mạnh, lấy tế bào đó chẩn đoán di truyền, chạy điện di xem tế bào có mang bệnh lý hay không. Nếu có thì loại bỏ, còn nếu hoàn toàn bình thường thì dùng phôi đó để chuyển. Kết quả, ngày 5/1/2017, hai phôi bình thường được chuyển vào tử cung và một phôi đã làm tổ thành công. 7h55 ngày 15/9, con trai anh chị chào đời ở tuần thai thứ 38 bằng phương pháp sinh mổ. Bé nặng 3,5kg, khỏe mạnh, hoàn toàn không mang bệnh.

Thành công đầu tiên sau 20 năm thành lập

GS.TS Nguyễn Viết Tiến cho biết, đây là lần đầu tiên tại Việt Nam thành công kỹ thuật chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm, loại trừ bệnh lý di truyền tan máu bẩm sinh.

Chia sẻ về kỹ thuật mới này, GS.TS Nguyễn Viết Tiến cho biết, dù Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia đã thành lập được 20 năm, nhưng đây là lần đầu tiên thành công kỹ thuật này. Nhân viên Trung tâm đã phải mày mò, tìm hiểu trong thời gian rất lâu từ những thành tựu khoa học, kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới. “Không phải bất kỳ nơi nào đã làm được phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cũng thực hiện được kỹ thuật này, bởi nó yêu cầu kinh nghiệm, trình độ… của kỹ thuật viên”, GS.TS Nguyễn Viết Tiến chia sẻ.

Thông tin thêm về bệnh lý thalassemia, TS Hồ Sỹ Hùng cho biết, trên thế giới, có khoảng 7% dân số mang gene bệnh này. Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ mắc bệnh thalassemia chào đời. Cả nước hiện có khoảng 10 triệu người mang gene bệnh. Họ có thể không hề có biểu hiện bệnh (như da xanh, nhợt nhạt, da vàng, mũi tẹt, xương trán, xương chẩm dô ra, xương hàm trên dô…) nhưng lại âm thầm mang gene bệnh di truyền cho các thế hệ sau. Điều này có nghĩa là nguy cơ ra đời những đứa trẻ mang gene bệnh là rất cao.

Trường hợp như gia đình chị Y.T và chồng là hai bố mẹ cùng mang gene bệnh. Theo sơ đồ mô tả di truyền bệnh thalassemia, 25% con sinh ra sẽ mắc bệnh thalassemia (như hai trường hợp thai chết lưu mà anh chị phải mổ), 50% mang gene bệnh, chỉ 25% không mang gene bệnh (như cháu đầu lòng của anh chị).

Tuy nhiên, theo GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nếu để tự nhiên “hên xui”, khả năng sinh ra các bé mắc/mang gene bệnh là quá cao. Do đó, cần phải có kỹ thuật chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm để biết được phôi thai có mắc gene bệnh di truyền hay không. Từ đó sẽ cho ra đời những đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh, chất lượng sống tốt.

Theo các chuyên gia, thalassemia là bệnh máu di truyền bẩm sinh, có đặc điểm chung là tan máu thường xuyên dẫn đến thiếu máu mạn tính. Bệnh Thalassemia do sự thiếu hụt tổng hợp một chuỗi globin trong huyết sắc tố của hồng cầu. Hồng cầu bệnh nhân không bền, bị phá hủy sớm làm bệnh nhân bị thiếu máu và ứ sắt trong cơ thể. Hiện nay chưa có phương pháp điều trị khỏi bệnh mà chủ yếu điều trị triệu chứng.

Ở mức độ bệnh rất nặng, có biểu hiện phù thai từ khi còn trong bụng mẹ, thai chết lưu trước khi sinh (như hai lần mang thai của chị T). Mức độ nặng có biểu hiện thiếu máu nặng khi trẻ chưa đến 2 tuổi. Mức độ trung bình có biểu hiện thiếu máu rõ khi trẻ trên 6 tuổi.

Ở mức độ bệnh nhẹ, triệu chứng thiếu máu rất kín đáo. Người bệnh chỉ được phát hiện khi có kèm các bệnh lý khác như nhiễm trùng, phẫu thuật, có thai… Nếu bệnh nhân mắc bệnh ở thể ẩn thì không có biểu hiện gì khác biệt, không thiếu máu.

GS.TS Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết: Hiện còn rất nhiều bệnh lý về di truyền nhưng chưa chẩn đoán được do nhiều nguyên nhân. Trước mắt, những bệnh lý di truyền phổ biến, hay gặp, mức độ nặng (như thalassemia), cần được tập trung nghiên cứu trước để đảm bảo chất lượng dân số từ đầu vào “chuẩn”.

Tránh không sinh ra trẻ mang 2 gene bệnh do nhận từ cả bố và mẹ bằng các biện pháp như:

- Tầm soát và phòng tránh bệnh từ sớm: Với các biện pháp xét nghiệm chẩn đoán sàng lọc (xét nghiệm công thức máu, sắt huyết thanh, ferritin) và chẩn đoán xác định (xét nghiệm điện di huyết sắc tố, xét nghiệm di truyền học phân tử tìm đột biến gene), tư vấn tiền hôn nhân.

- Sàng lọc phát hiện bệnh sớm cho thai nhi: Phòng ngừa bằng các xét nghiệm tầm soát và chẩn đoán gene đột biến trong thời thai kỳ. Đây là biện pháp hiệu quả và chi phí thấp. Nếu cả vợ và chồng đều mang gene bệnh thì thai nhi có 25% nguy cơ bị mắc bệnh ở thể nặng, trường hợp này cần được thực hiện chẩn đoán trước sinh bằng phương pháp chọc ối hoặc sinh thiết gai nhau và tìm đột biến gene.

Võ Thu

Bình luận (0)
Ý kiến của bạn
Tags:

Cùng chuyên mục

Vụ rò rỉ khí độc ở Thường Tín khiến 40 người nhập viện: Bác sĩ cảnh báo tổn thương phổi cấp và nguy cơ diễn tiến muộn

Vụ rò rỉ khí độc ở Thường Tín khiến 40 người nhập viện: Bác sĩ cảnh báo tổn thương phổi cấp và nguy cơ diễn tiến muộn

Y tế -

GĐXH - Ngày 20/10, TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai) thông tin về các trường hợp bệnh nhân ngộ độc khí clo được chuyển đến từ BVĐK Thường Tín, trong đó có 2 trường hợp rất nặng, được điều trị hồi sức tích cực.

Hơn 1.100 bộ tóc được trao tặng tại Ngày hội “Trạm tóc ước mơ 2026”: Đong đầy nụ cười tại ngày hội hiến tóc cho bệnh nhân ung thư

Hơn 1.100 bộ tóc được trao tặng tại Ngày hội “Trạm tóc ước mơ 2026”: Đong đầy nụ cười tại ngày hội hiến tóc cho bệnh nhân ung thư

Y tế -

GĐXH - Ngày 18/10, Ngày hội hiến tóc “Trạm tóc ước mơ” lần thứ 5 đã diễn ra với sự phối hợp tổ chức của Mạng lưới Vì trẻ em ung thư, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương và Phòng Tổ chức cán bộ, Công an TP Hà Nội. Đáng chú ý, có rất nhiều người mang theo những mái tóc được nuôi dưỡng suốt nhiều tháng, nhiều năm để dành tặng bệnh nhân ung thư.

Số người mắc bệnh tim mạch tại ASEAN tăng gần 150% sau hơn 3 thập kỷ

Số người mắc bệnh tim mạch tại ASEAN tăng gần 150% sau hơn 3 thập kỷ

Y tế -

GĐXH - Với khoảng 700 triệu dân, Đông Nam Á đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tim mạch ngày càng lớn. Số người mắc bệnh tại 10 quốc gia ASEAN đã tăng gần 150% so với năm 1990, trong khi già hóa dân số, thay đổi lối sống và sự chênh lệch về năng lực y tế tiếp tục gây sức ép lên công tác dự phòng, phát hiện và điều trị.

Thực dưỡng quân bình âm dương trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Thực dưỡng quân bình âm dương trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Y tế -

GĐXH – Ngày 17/10, Hội thảo khoa học “Thực dưỡng Quân Bình Âm Dương trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng” đặt ra nhiều vấn đề về dinh dưỡng, lối sống và phương pháp thực dưỡng Ohsawa. Các chuyên gia đã tập trung thảo luận làm rõ triết lý của trường phái này, đồng thời gợi mở việc tiếp cận thực dưỡng trên cơ sở khoa học và phù hợp với nhu cầu sức khỏe của mỗi người.

Bắt buộc dán nhãn cảnh báo đường, muối mặt trước bao bì: 'Tấm lá chắn' bảo vệ người tiêu dùng trước bệnh mạn tính

Bắt buộc dán nhãn cảnh báo đường, muối mặt trước bao bì: 'Tấm lá chắn' bảo vệ người tiêu dùng trước bệnh mạn tính

Y tế -

GĐXH - Trước gánh nặng báo động của các bệnh liên quan trực tiếp đến chế độ ăn mất cân đối và thực phẩm siêu chế biến, việc đưa nhãn cảnh báo dinh dưỡng ra mặt trước bao bì đang trở thành công cụ chính sách cấp thiết, bảo đảm quyền được biết và giúp người tiêu dùng lựa chọn thực phẩm một cách thông thái.

Bệnh viện E đưa hệ thống MRI 3.0 Tesla ứng dụng AI vào hoạt động

Bệnh viện E đưa hệ thống MRI 3.0 Tesla ứng dụng AI vào hoạt động

Y tế -

GĐXH - Bệnh viện E chính thức đưa hệ thống cộng hưởng từ MRI 3.0 Tesla Signa Architect vào hoạt động. Với khoang máy rộng 70 cm, tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và các phần mềm chuyên sâu, hệ thống hỗ trợ khảo sát nhiều lĩnh vực như tim mạch, thần kinh, đột quỵ, cơ xương khớp và ung bướu.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.